LTS: Tưởng niệm 51 năm Tháng Tư Đen, Việt Báo trân trọng giới thiệu bút ký “Palawan Miệt Đất Hứa” của nhà văn Trần Vũ, không chỉ là hồi ức riêng mà còn là tiếng nói chung của triệu thuyền nhân trên hành trình tìm tự do. Bài viết khép lại bằng cuộc trùng phùng muộn màng với người bạn gái năm xưa – nay là người bạn đời – như một phần thưởng cho một thế hệ lưu lạc, nơi tình người và hy vọng vượt trên mọi bão tố lịch sử.

Cờ mình! Chúng tôi cứng sững người. Đã bốn năm rồi không nhìn thấy, phải phủ nhận, phải chôn vào huyệt ký ức, vậy mà lá cờ vẫn sống, đang bay. Và lần đầu tiên được thốt lên một lần nữa hai chữ “Cờ mình”. Mắt mọi người ràn rụa. Ảnh: Wiki.
***
Puerto Princesa City
Chúng tôi đến Palawan giữa trưa nắng. Nắng chói chang nhiệt đới đập xuống mặt lũ thuyền nhân từ quân vận hạm leo vội vã lên các xe nhà binh. Chúng tôi gầy gò ướt sũng và da nhăn nhúm của 13 ngày trôi trên biển. Trôi từ bao giờ tôi hết còn ý niệm của trôi giạt ̶ chỉ còn bản năng sống sót. Chuyến tàu kinh hoàng xuất phát từ Mỹ Tho đêm 28 tháng 5-1979 va vào đá ngầm mắc cạn trên san hô. Gần hai tuần lễ chúng tôi dầm dưới nước, ban ngày biển rút xuống mắt cá chân giúp cạo sò ốc nhai rong rêu và hứng nước mưa; đêm đến thủy triều lên hút đầu phải bám víu bè gỗ. 391 thuyền nhân đăng ký vượt biên bán chánh thức, lên đến đảo Liminangcong ngày 21 tháng 6 điểm danh còn đúng 285. Những người khác ̶ 106 kẻ khác của Camus ̶ chết đuối, chết chìm, mất tích. Chúng tôi không nghĩ đến họ nữa.
Không ai biết mai ra sao. Đất Phi lành hay dữ? Hải Quân Phi trên đảo Liminangcong phát cho mỗi người mỗi ngày ba thìa cháo. Quát tháo và nạt nộ. Chúng tôi đi xin ăn trong các bản làng Phi, xin canh cặn cá thừa để cầm hơi. Một tuần sau Hải Quân Phi chở chúng tôi đến Puerto Princesa City. Bến cảng hiện ra như thiên đàng.
Anh Vĩnh thông thái dịch: “Princesa là công chúa! Puerto Princesa City là thành phố của Công chúa! Chúng mày là hoàng tử công chúa đất Phi!”… Chúng tôi ngơ ngác nhìn quanh, hết còn là làng chài lưới ván gỗ ọp ẹp mà xây bằng gạch. Có nhà thờ, biệt thự, trường học, quán bar! Đám thuyền nhân vỡ òa sung sướng. Nhưng phút sung sướng tắt nhanh vì các ngôi nhà khang trang biến mất dần nhường cho đường đất ngoằn ngoèo. Mười chiếc quân xa rú máy chạy qua hết ruộng bắp này đến ruộng chuối khác. Hết nhà gạch, xuất hiện những túp lều lợp lá thưa thớt. Lộ đất mỗi lúc một hẹp, lổn ngổn đá với bụi gai hoang vắng. Chúng tôi biết đã xa thị tứ.
Trạm kiểm soát đầu tiên có quân cảnh vận quân phục y như Quân Cảnh VNCH nhưng lực lưỡng hơn với da đen sạm không chút thân thiện. Bót gác có rào chắn. Rồi đoàn xe bắt đầu leo dốc. Tôi ngồi bệt trên sàn sắt cố nhướng mắt với các anh Thành, anh Hoàng nhìn ra phía trước. Hai anh chung tàu bảo bọc tôi những ngày tàu chìm. Chung quanh các khuôn mặt vẫn còn nguyên nét bàng hoàng chết hụt trên bãi ngầm Trường Sa. Trước lúc đi chúng tôi đã biết tin thuyền nhân bị nhốt, bị đánh đập trong các trại cấm Hồng Kông, bị đối xử dã man ở các xứ mới hôm qua hãy còn là đồng minh của VNCH. Anh Thành là Thiếu Úy Bộ Binh tù ba năm, gương mặt hằng nét khổ sai, nhưng anh cứng cáp nhất, lúc nào cũng trông chừng anh em tôi. Ở Liminangcong có ba thìa cháo, anh chia cho tôi, bảo: “Mày đang sức lớn nuốt đi.” Giờ, chúng tôi chung thắc mắc: Cảnh binh Phi chở chúng tôi đi đâu? Không ai biết. Chúng tôi sắp bị đánh bị nhốt không? Sao không thấy Cao Ủy Liên Hiệp Quốc ra nhận chúng tôi? Dãy núi đen rập rờn không gây yên tâm. Lúc này hết ruộng thành rừng. Những gốc đa của tán rừng ven lộ mọc nghiêng xuống gần đụng mui xe. Một người nói: “Côn Đảo rồi bây ơi!”. Khoang xe im phắc lo lắng. Nhíp xe xốc mạnh khi lên đến đỉnh dốc. Ba chục thuyền nhân chất cá mòi ngã đè lên nhau. Đột ngột một tiếng la: “Cờ Việt Nam Cộng Hòa!”
Chúng tôi bật lên như lò xo. Tất cả mất thăng bằng vì xe rung lắc nhưng ráng bấu víu, bám lưng, chen lên vai người khác, bám vào đầu kẻ chung quanh để chồm lên. Ai cũng muốn nhìn. Trời quang giúp thấy lá cờ trên chóp một cột cao. Lá cờ ba sọc đỏ nền vàng. Đồng loạt nhiều tiếng gào: “Cờ mình!”.. “Cờ mình!”
Cờ mình! Chúng tôi cứng sững người. Đã bốn năm rồi không nhìn thấy, phải phủ nhận, phải chôn vào huyệt ký ức, vậy mà lá cờ vẫn sống, đang bay. Và lần đầu tiên được thốt lên một lần nữa hai chữ “Cờ mình”. Mắt mọi người ràn rụa. Bốn năm dài tủi nhục hết rồi. Bồn năm trường uất nghẹn hết rồi. Một người sụt sùi “Mình thoát rồi…”, một người khác tức tưởi “Sống rồi”, “Sống rồi…” rồi là những tiếng nấc. Khóc vì sung sướng. Khóc cho vơi tủi hờn đằm đìa má. Một người cha cắn môi, một người mẹ ôm chặt con, một người đọc kinh Lạy Cha, một người khác niệm Phật, một người khác hứa ăn chay suốt đời.
Phải sống phút đó. Tôi đã sống phút đó trong thùng xe chiếc GMC chở thuyền nhân về trại Palawan. Tôi đã chứng kiến mọi người khóc nghẹn ngào khi trông thấy lại lá quốc kỳ của Miền Nam. Tức tưởi hòa với nước mắt của vui mừng vì lá cờ vàng còn dựng được trên mặt đất là còn hy vọng.
Vietnamese Refugees Camp
Vietnamese Refugees Camp là tấm bảng treo trước cổng trại Palawan. Bên ngoài không khác mấy trại tập trung Tuy Phong ở Phan Thiết nơi giam giữ sĩ quan Cộng hòa cấp úy, nơi gia đình tôi bị bắt giam ba tháng vì tội vượt biên. Không khác, cũng lớp lớp kẽm gai, bao cát, vọng gác với rào chắn. Chung quanh không nhà dân, không bản làng, ngút ngắt rừng xanh với một quán nước duy nhất lợp lá dừa đối diện cổng trại. Bên trong một bên là bãi đất trống sát rừng, một bên là ba gian barracks bằng gỗ ván ép che mái tôn kéo dài ra đến bãi cát đầy đá ngầm. Trại tỵ nạn Palawan lọt thỏm cuối mũi đất nhô ra biển giữa rừng quây kẽm gai, sức chứa năm ngàn người.
Chúng tôi đói lả. Hành trình một tháng vượt biên, một tuần ở đảo Liminangcong, một ngày một đêm hải hành đến Palawan không được phát thức ăn trên dương vận hạm khiến chúng tôi xanh mướt tàu lá. Ông Thanh trưởng trại ra lệnh cho nhà bếp cấp tốc thổi cơm. Tôi ăn liên tục một lúc 10 lon Guigoz, đến bây giờ kể lại không ai tin, không có thức ăn, chỉ có cơm trắng nhưng tôi nuốt ngon lành, ăn hết lại chìa lon cho đến lúc người ta la hoảng: “Đừng cho thằng nhỏ ăn nữa nó sắp bội thực!” Người lớn giằng lon Guigoz. Đến lúc đó tôi mới thực sự thấy đuối sức, rủ riệt tay chân. Sức vóc như đã pha loãng vào sóng biển và sóng cuốn trôi xa. Tôi muốn đi kiếm anh Thành, anh Hoàng và anh cả tôi không biết lạc mất lúc nào lúc phát cơm chen lấn hỗn độn nhưng lết không nổi. Giờ tôi mới thấy no muốn nghẹn. Tôi bước ba bước, mặt đất bồng bềnh như tôi còn dưới nước. Tôi hiểu trọng lực vật lý khác biệt làm lên bờ tôi bị nghiêng ngã nhưng tôi hết còn sức để suy nghĩ. Tôi ngã dụi lên đống củi phía sau chái bếp. Trong lơ mơ đầy tiếng động, tôi loáng thoáng nghe người ta kháo là trại chia làm năm khu: Khu 1 đi Canada, Khu 2 đi Mỹ, Khu 3 đi Úc, Khu 4 Vô thừa nhận; còn Khu 5 dành cho những gia đình khá giả có tiền thuê cất lều riêng. Tôi thiếp ngủ dưới lá cờ vàng.
Ông Thanh tập hợp chúng tôi lại và bắt chia thành toán rồi chỉ định về khu 4 Vô Thừa Nhận. Anh Vĩnh văng tục: “Đã thoát ra ngoài rồi còn lập tổ dân phố, lập Công an phường luôn đi.” Gọi là Khu 4 nhưng không có barrack, không có nhà, không vách tường mái tôn giường chiếu chi hết, chỉ là một bãi đất trống sát phi đạo chằng kẽm gai. Không điện, không nước máy, một miệng giếng duy nhất bên Khu 5 nhưng là giếng nước mặn. Mỗi ngày lính Phi kéo mấy móc hậu nước vào phân phối cho trại; mỗi người xếp hàng lĩnh hai lít nước, muốn thêm nữa thì hứng nước mưa. Những đêm đầu chúng tôi ngủ trên cỏ ướt. Tôi không còn quần áo nào khác ngoài đồng phục học sinh lúc xuống thuyền nhưng không thấy lạnh. Tôi đã dầm nước biển hai tuần, đã ngủ trên ghềnh đá sóng đập ở cầu tàu Liminangcong thì xá gì sương đêm. Nhưng giấc ngủ không an giấc, chập chờn mộng mị thấy mình còn ở Sàigòn, trong ngôi nhà mẹ, gọi “Mẹ, Mẹ.. con thoát rồi, con đến bờ rồi…” rồi hốt hoảng không hiểu vì sao mẹ đã đóng 12 cây vàng cho mình ra đi mà mình vẫn còn ở nhà và công an đang đập cửa… Tôi thức giấc giữa hai ác mộng, thấy lính Phi đi tuần chiếu đèn pin ngang dọc lên mặt lũ thuyền nhân đang ngủ xếp lớp như cá nục. Tôi cũng là con cá nục vừa chai với số phận.
Vài tuần sau, anh cả dạy Pháp văn và chị Tâm đi dạy Anh văn có tiền thuê các thanh niên trong trại đốn cây cất cho chúng tôi một túp lều chiều ngang hai thước, chiều dài ba thước với một góc bếp và một giường tầng, lợp bằng lá dừa kết với cây rừng. Căn lều sát sân bay. Mỗi khi máy bay Phi cất cánh là túp lều rung chuyển bần bật và sau vài tuần lá héo cong queo, trời mưa xuống làm chúng tôi ướt như chuột. Bổn phận của tôi là đi lĩnh thực phẩm, một con cá ươn, một miếng thịt heo ôi với ba lon gạo cho 3 người. Anh Vĩnh cằn nhằn: “Tụi nó ăn chặn tiền của Liên Hiệp Quốc, phát cho mình toàn của ôi.” Anh Thành an ủi: “Lúc tàu đắm mình xin ơn trên ít hơn vầy.” Lều của anh Thành và anh Vĩnh cách không xa, chúng tôi chạy qua chạy lại. Công việc của tôi còn là xếp hàng lĩnh nước ngọt và vô rừng đốn củi về nấu ăn. Vì lính Phi phát thịt sống, cá sống, gạo sống nhưng không phát chất đốt. Lúc ở Sàigòn tôi chưa từng xuống bếp nên tôi cho hết chuối, dừa, cá vô nón sắt lính Phi tôi lượm được đặt trên ba cục đá rồi đổ nước vô đốt củi đun. Anh cả tôi phun ra đất! Chị Tâm lịch sự nhắc nên đánh vẩy mổ ruột trước khi cho vô. Anh Vĩnh nhạo: “Tao nói rồi. Puerto Princesa City là đảo của Công chúa mà. Tụi bây là hoàng tử công chúa đất Phi! Công chúa không đụng tay, hoàng tử không biết đánh vẩy cá!”
Phu Nhân Imelda Marcos
Tin sét đánh: Phu nhân đương kim Tổng Thống Ferdinand Marcos là First Lady Imelda Marcos thăm trại ủy lạo các thuyền nhân tỵ nạn Cộng sản! Suốt hai tuần lễ đầu tháng 10-1979 Ban Điều hành đôn đốc đàn bà con gái kết hoa, treo đèn lồng, giăng cờ quạt khắp nơi, đàn ông thanh niên phải vô rừng đốn cây dựng khán đài. Nhóm chúng tôi cố tình đốn những cây ốm, không quá to cho dễ khuân. Ông phó ban Khu 4 «kiểm tra phẩm chất» không mấy ưng ý: “Không đạt chỉ tiêu. Đốn lại cây khác.” Anh Thành nổi sung quát: “Đây 6 năm lính, ném 200 trái lựu đạn. Ngon chơi tay đôi.” Tay phó ban tái mặt, nhìn nhìn rồi thì thào: “Thông qua.” Anh Vĩnh chửi thề: “Sang đây còn chức sắc. Còn sài chữ Việt cộng.” Anh Hoàng nói: “Nó bị nhiễm.”
Chúng tôi phải tập hát ca khúc suy tôn Tổng Thống và những bài ca chào mừng Đệ Nhất Phu Nhân, mặc dù không hiểu chi hết chỉ lập lại như con két. Khắp trại giăng các biểu ngữ viết bằng tiếng Filipino. Rồi buổi sáng trọng đại cũng đến. 8 giờ sáng đã bị lùa ra đứng dọc hai bên cổng chào, đứng dọc lối đi dẫn đến cột cờ và đứng xúm xít chung quanh khán đài. Lính Phi phát cho mỗi người một lá cờ Phi bắt cầm trên tay và phất lên vẫy vẫy khi phu nhân đến. Trưởng ban quân nhạc Phi yêu cầu tập dợt quốc ca Phi “Lupang Hinirang” mặc dầu suốt tuần rồi đã hát đi hát lại cả chục bận. Ông Thanh trưởng trại yêu cầu đồng hương ăn vận chỉnh tề, giữ quốc thể! Anh Vĩnh càu nhàu: “Còn hơn đón Tôn Đức Thắng!!” Tôi ngó ra cột cờ, lính Phi đang hạ cờ VNCH thay bằng cờ Phi Luật Tân có hình mặt trời với ba ngôi sao cho đúng nghi lễ.
Tháng 10 mùa bão, trời bắt đầu mưa lất phất, mây đen kín đỉnh núi. Tôi nhìn xuống quần áo mình, tôi chỉ có ba bộ quần áo mặc suốt bốn tháng nay, hai bộ áo hồng và tím có nơ ren với thêu hoa hồng của dì phước cho ở Liminangcong. Hôm đó tôi gõ cửa tu viện xin ăn, một dì phước trẻ mở cửa nhìn rồi dẫn tôi lên phòng lấy cho tôi quần áo thời con gái của dì. Nhưng là đồ bộ đàn bà nên tôi không dám mặc ban ngày, chỉ bận khi ngủ, ban ngày tôi vẫn mặc đồng phục học sinh của mình. Trong tiếng nhạc “Pagsalubong sa unang ginang… Welcoming the First Lady…” tôi thấy rõ hai ống tay áo của mình rách đến nách, còn hai ống quần dài rách đến gối. Rồi tôi nhìn ông Thanh đang cầm loa phóng thanh đi qua đi lại, ông vận quần tây đen gabardine, áo sơ mi trắng dài tay có cài manchette, thắt cà vạt có barrette, nhìn là biết ông không đắm tàu, chưa thành cá nục. Ông nói tiếng Anh oang oang “Ladies and Gentlemen…” nhưng chuyển sang tiếng Việt là ông quát “Cái xóm nhà lá bên hông khán đài đó… Không có ngồi xổm!”. Ông thật sự nghĩ là chúng tôi có thể ăn vận chỉnh tề? Mà tại sao trong tiếng Anh thuyền nhân sang trọng mà sang tiếng Việt thì bần hàn?
Mưa mỗi lúc một lớn. Giờ thì phải tập hô «Vạn Tuế Phu Nhơn»… bằng tiếng Việt. Tất nhiên là bà Marcos sẽ không hiểu chi hết nhưng bà cần nghe thuyền nhân tung hô bà bằng chính ngôn ngữ của Trưng Trắc. Mưa nặng hạt. Ông Thanh cầm loa thông báo chương trình tiếp đón Phu Nhơn lúc 10 giờ lui lại… chờ bớt mưa. Nhiều gia đình lên tiếng yêu cầu cho về lều trú nhưng ông Thanh không chịu, viện cớ Phu Nhơn đã đáp xuống phi trường quân sự, từ đó đến trại có 20 phút, cho tất cả về barracks thì khi hô tập trung sẽ không kịp. Với lại chưa có lệnh giải tán của đại tá quân trấn trưởng Palawan. Chúng tôi bắt đầu ướt nhem, gió quất từng cơn. Đến trưa chẳng còn hàng lối, mọi người ngồi bệt xuống đất, con nít bắt đầu kêu khóc. Nhiều người phản đối. Lính Phi phát cho mỗi người hai miếng bánh lót dạ, huơ súng bắt giữ trật tự. Tôi có ý nghĩ là mỗi khi lá cờ vàng biến mất là dân miền Nam lại lầm than. Tại sao chúng tôi phải chầu chực ở đây dưới mưa? Tôi nhìn nước mưa nhiểu từ sống mũi mình xuống cằm rồi chạm ngón chân. Y những giọt mưa trên biển những ngày tôi dầm dưới đại dương. Những ngày mắc cạn trên san hô, ban ngày nước rút, ban đêm thủy triều lên quá đầu phải bám víu vào nhau, níu dây thừng, ván gỗ. Tôi đã trông thấy thây ma chết đuối nổi lên chương sình trôi lềnh bềnh bên cạnh phải lấy tay đẩy ra. Tôi đã không hiểu vì sao tôi phải chết quá sớm? Mới hôm qua tôi còn ở quận Nhất Sàigòn, đầu tháng Tư tôi còn đến nhà Thanh Mai trên đường Phan Thanh Giản đàn ca khúc Ngăn Cách của Y Vân trong ngày sinh nhật thứ mười bảy của cô bạn gái thân thiết nhất của mình. Mười ngày sau Thanh Mai vượt biên không kịp từ giã, rồi một tháng sau đến phiên tôi trôi giạt trên biển, cùng biển Thái Bình này, vẫn là biển Thái Bình bao quanh Việt Nam. Tất cả diễn ra quá nhanh. Tôi với Thanh Mai chỉ vừa chớm 17 tuổi. Suốt hai năm 78-79 chúng tôi không rời nhau, chung trường, chung lớp, ngồi chung bàn cạnh nhau, chiều chiều cùng đi học phụ đạo, tối đèo nhau khắp phố phường, tình yêu Trung Học trong sáng. Vậy mà giờ tôi ngồi đây, bệt trên cát đang chuyển sang bùn đợi bà Marcos. Tôi không biết bà là ai ngoài chức danh hoa hậu trước khi bà lấy ông Marcos.
Quá trưa, gần hai giờ chiều, nhiều gia đình tự động bỏ về mà ông Thanh không ngăn được, cả lính Phi cũng không còn muốn giữ trật tự vì hiểu là bà Marcos sẽ không đến. Mưa càng lúc càng lớn, đến ba giờ chiều thì tất cả mọi người ướt sũng chạy về lều. Đêm xuống Ban Điều hành hoan hỷ báo tin là tuy Phu Nhơn không đến nhưng quà ủy lạo đã chuyển đến: Gồm một lon sữa bột, một lon cacao, một túi cà phê, một bịch đường cho mỗi túp lều!
Vũ Thị Thanh Mai
Tháng 11 xảy ra tai nạn. Tôi chiên cá trong nón sắt lính Phi, lửa nóng làm cục gạch kê bị vỡ khiến chảo nón sắt đổ ụp xuống tay. Bị bỏng nặng nên tôi chạy lên trạm xá xin thuốc, chỉ được cho một ống kem đánh răng nhưng tôi cũng không sao bôi lên tay được vì da nổi phồng thành bong bóng đau rát suốt cả tháng. Áp Giáng Sinh xảy ra tai nạn khác. Tôi đứng từ trưa đến chiều đợi lãnh nước. Nhiều người cãi vã vì mất kiên nhẫn. Đến phiên tôi hứng nước, một ông xếp hàng phía sau chen lấn xô tôi sang bên để giành chỗ. Ngay lúc đó thanh gỗ chống đỡ móc hậu nước không biết vì sao gãy đôi làm nguyên cần móc sắt rơi đập xuống chân ông vừa chen lên, khiến gang bàn chân ông đứt lìa. Nguyên bãi đất máu me đến sợ. Người ta lật đật chở đi cứu thương. Tôi thầm cảm ơn Phật độ trì cho mình. Chỉ tíc-tắc thôi, nếu ông ta không giành chỗ là tôi đã đứt đôi bàn chân.
Sắp Giáng Sinh, trại trang trí những cây thông giả kết bằng cành dứa với trái châu là những lon sữa của bà Marcos treo lủng lẳng. Tôi nhớ Thanh Mai vô vàn. Giáng Sinh 78 tôi với Thanh Mai đi bộ từ chợ Bến Thành ra công trường Lam Sơn, tôi muốn hai chúng tôi đếm những bóng đèn đường như trong Phượng Vỹ của Duyên Anh. Nhưng dòng người đông đúc tràn phố khiến chúng tôi không sao bắt chước Chương với Phượng ở Thái Bình cùng sóng đôi đếm những cột điện của thị xã. Tuổi niên thiếu của chúng tôi ngập tràn mơ mộng với Duyên Anh, Nhã Ca, Erich Maria Remarque. Tôi chuyền cho Thanh Mai những trang tiểu thuyết và Thanh Mai cùng đọc chui những trang sách in trước 75. Rồi Tết 79. Chiến tranh với Khmer Đỏ, chiến tranh với Tàu nhưng Thanh Mai đẹp như một ước mơ. Mùng Hai Tết Thanh Mai đến chúc Tết. Thanh Mai tóc ngắn, váy ngắn. Lần đầu tiên trông thấy đôi chân trần của Thanh Mai nên tôi nhìn không chớp mắt. Đến lúc ngửng lên bắt gặp Thanh Mai đang quan sát mình. Cả hai chúng tôi cùng đỏ mặt, vì Thanh Mai biết tôi đang nhìn đùi Thanh Mai, còn tôi xấu hổ đã nhìn chăm chăm đùi cô bạn mình. Chúng tôi cắn hạt dưa ngượng nghịu rồi Thanh Mai vội vã ra về. Tôi trách mình cùng cực và nghĩ chắc Thanh Mai phải khinh mình lắm, không biết làm sao xin lỗi. Nhưng sáng Mùng Ba Thanh Mai lại đến. Nghe bấm chuông tôi lao ra mở cửa, Thanh Mai mặc váy ngắn hơn hôm qua! Cô bạn thân xinh xắn cười tươi như hoa với ánh mắt ngầm nói “Mai vận váy ngắn cho Vũ ngắm nữa!” Chúng tôi vui hơn Tết. Tôi đập heo moi hết tiền lì xì chở Mai đi uống chanh Rhum với Yaourt đá bào. Mai quàng tay ôm thắt lưng tôi trìu mến. Mùng Bốn Tết chúng tôi xem ciné ở rạp Casino, trú mưa bên hông thư viện quốc gia… Chế độ Cộng sản song mọi thứ như còn y nguyên và tuổi dậy thì của hai chúng tôi lớn lên với quá khứ cũ đẹp tựa nhành lúa.
Áp Giáng Sinh, những cơn bão rời xa Palawan trả lại bầu trời quang đãng trên dải cát vàng. Tôi ra biển ngó những lượn sóng, thầm hỏi bây giờ Thanh Mai ở đâu? Tôi không sao xóa được hình ảnh của Thanh Mai. Tôi hay ra phía sau bãi đá lấy cành cây viết tên Vũ Thị Thanh Mai trên cát. Mỗi một lần viết là một lần xúc động và mỗi bận sóng đánh lên xóa nhòa làm thêm buồn bã. Vũ Thị Thanh Mai tôi nuốt thầm từng chữ. Vì sao chúng tôi không thể cùng lớn lên với nhau, cùng lên Đại Học rồi đám cưới? Tại sao chúng tôi phải ra đi. Vì sao phải rời quê? Tôi tìm lời giải thích, vì phía chiến thắng đối xử tàn ác.
Thanh Mai vượt biên ngày 13 tháng 4. Tôi vượt biên ngày 28 tháng 5. Hai gia đình gửi hai đứa con ra biển mà không biết định mệnh nào chờ đón. Không lẽ chúng tôi thất lạc mãi mãi? Tôi quyết tâm tìm Thanh Mai.
Tôi không biết chuyến tàu của Thanh Mai đến đảo nào nhưng trên văn phòng trưởng trại của ông Thanh có danh sách các trại tỵ nạn Đông Nam Á. Tôi không có xu nào. Phải có tiền mua tem, mua giấy bút với phong bì, và viết ít nhất mười lá thư nhắn tin gửi đến các trại Mã Lai, Thái Lan, Nam Dương, Hồng Kông, Tân Gia Ba. Tôi xin tiền, anh cả không cho, mắng: “Tí tuổi đầu đã yêu đương.” Tôi không giận anh cả nhưng tự ái, thề không xin nữa, nhất quyết tự kiếm cách. Tôi sang lều anh Thành hỏi cách có tiền. Anh Thành hỏi lý do, tôi ngập ngừng rồi nói hết. Anh Hoàng, em anh Thành ca vọng cổ “tình chỉ đẹp khi còn dang dở…” làm tôi ngượng chín mặt. Anh Thành ôn tồn: “Tao không có tiền cho mày nhưng phía sau lều tao có lỗ chó chui, tao thấy tụi nó buôn gạo chui qua ngả đó. Mày có gạo dư không? Không có thì qua tao ăn ké rồi dành đụm mang bán.”
Tôi có gạo dư. Từ hôm chê tôi nấu cám heo, anh cả tôi làm «gia sư» dạy Pháp văn cho các gia đình đi Québec, Pháp, Bỉ, Thụy Sĩ nên ăn chung mâm với họ. Chị Tâm dạy Anh văn cũng được mời ăn với các học trò của chị. Thành ra tôi nấu cám heo cho mình tôi thôi, lâu lâu sang lều chị Hồng «ké độ». Ở trại tỵ nạn tôi thấy người Trung rất tốt, họ rất mực đùm bọc đồng bào bất kể xuất xứ. Có phải vì miền Trung nhiều thiên tai nên họ quen cứu giúp? Tôi không rõ, nhưng người này cho tôi cây rựa để đốn củi, người kia phụ chẻ củi, chị Hồng câu được cá lớn là gọi tôi qua cho. Tôi nhẩm tính sáu tháng nay dư năm chục cân gạo. Tôi nói anh Thành dẫn tôi ra lỗ chó chui.
Anh Thành với anh Hoàng gạt bụi cây, vạch mấy lùm gai rồi trỏ một đoạn kẽm gai ai đó đã cắt thủng rộng đủ một người chui: “Mày chui hướng này, chừng năm sáu cây số ra đến chợ Phi, họ bán đêm, tìm sạp gạo rồi quay về. Tránh đường lộ có trạm gác, đi đường rừng nhắm hướng Tây, khi về nhắm hướng Đông là hướng biển phía sau lưng trại mình. Sáu cây số đường rừng thì mày đi ba tiếng, đi về sáu tiếng. Khởi hành tám giờ đêm thì hai ba giờ sáng là về đến trại. Đừng để bị bắt”.
Tôi gật. Tôi biết bị bắt là sẽ bị lính Phi giam chuồng khỉ. Là một cái chuồng gỗ rào kẽm gai tứ phía, bị giam đứng suốt ngày, hễ té ngã là té vô kẽm gai. Anh Hoàng dúi tôi con dao bấm: “Giữ mà phòng thân.”
Tặng Phẩm Của Rừng
Hôm sau tôi với anh Hoàng ăn cắp bao bố ở các bao cát chằng cột kẽm gai, trút hết cát mang ra biển giặt rồi trút gạo vô. Tôi muốn bán hết 50 cân cho có nhiều tiền nhưng anh Hoàng nói “Mày vác không nổi đâu.” Tôi nhấc lên vai, thấy nặng nhưng vẫn khuân được, anh Hoàng lắc đầu: “Mày đi đường rừng, vác lâu sẽ khuỵu.” Tôi nghe lời trút bớt mười cân. 8 giờ tối, trại tối đen vì không có điện. Đồn Quân Cảnh với trạm gác có máy điện riêng nhưng bên trong trại leo lét đèn cầy. Ở các dãy barracks ăn cơm tối giấc 5 giờ chiều, đến 7 giờ là giăng mùng. Anh Thành với anh Hoàng đưa ra lỗ chó chui, giúp tôi kéo bao gạo qua rào kẽm gai rồi chúc may mắn. Đêm chưa có trăng, im lìm chỉ có ánh điện ở quán bar trước cổng trại với đèn chiếu sáng bên phi đạo. Tôi bước nhanh, chốc chốc ngồi thụp xuống nghe ngóng, xốc lại bao gạo trên vai rồi đi tiếp. Tuổi 17 bẻ gãy sừng trâu nên tôi thấy khỏe khoắn tin đủ sức vác ra đến chợ. Chỉ không biết bán giá bao nhiêu. Đi một lúc đường đất bắt đầu gập ghềnh và hết còn cỏ tranh mà gai góc, cây rừng một lúc một nhiều. Ánh điện quán Bar tắt ngấm, ánh đèn phi đạo le lói xa dần rồi mất hút. Tôi biết đã ra khỏi khu vực canh gác. Kỷ luật của Quân cảnh Phi là cấm thuyền nhân vượt rào kẽm gai, chúng tôi được vô rừng đốn củi nhưng là mé rừng ven bãi cát, cấm không qua khu sân bay, cấm vào sâu trong các bản làng và cấm tuyệt đối tiếp xúc dân bản xứ. Lúc này tối đen không chút ánh sáng. Anh Thành dặn nhắm hướng Tây nhưng tôi không biết hướng Tây là hướng nào, cứ bước đại lên phía trước mặt. Rừng đêm đầy tiếng động của côn trùng kêu óp óp ẹp ẹp và tiếng tặc lưỡi của tắc kè làm tôi hơi sợ. Lâu lâu một gốc cây dị dạng hiện ra như ma. Trong bóng tối mọi thứ mang hình thù quái dị. Tôi bắt đầu thấy bao bố nặng, mấy bận tôi vấp đá ngã làm đầu gối bị trầy xướt. Tôi ngắt lá rừng cuốn quanh ngón chân cái để cọng kẽm buộc quai dép không cứa vô da. Đôi dép con gái cũng của dì phước cho. Tôi không có đồng hồ nên không biết đã đi được bao lâu. Anh Thành dặn đi sát ven lộ, cứ theo đường lộ là ra đến chợ vì chỉ có một đường độc đạo nhưng tôi không biết lộ nằm phía nào. Tối thui như mực. Ánh sáng duy nhất là bầy đom đóm lập lòe. Tiếng rắn rung chuông từng chập rồi chợt rừng như có lân tinh sáng mờ mờ. Tôi ý thức cứ xăm xăm sẽ bị lạc. Tôi quyết định lấy con dao bấm anh Hoàng cho khắc lên gốc cây chữ M, để lúc về giúp tôi nhớ lối về trại. Cứ mỗi năm mươi bước chân là tôi lại lấy dao rọc một chữ M to. M là Mai.
Không biết bao lâu nhưng tôi thấy hụt hơi, vả tháo mồ hôi ướt đầm. Bao bố trở nên nặng chịch. Tôi ngồi nghỉ, liệu sức không vác nổi nên trút bớt gạo. Tôi khát nước và lo lắng phập phồng. Đột ngột có tiếng động cơ ở xa rồi là ánh đèn pha sáng lòa. Ánh đèn vút qua nhanh nhưng tôi nhận ra hướng xe chạy. Đường lộ ở phía đó. Từ lúc này tôi không còn lấy dao rạch chữ M lên vỏ cây vì men theo lộ là không lạc, và gần đường cái cũng ít cây toàn bụi gai. Cứ mỗi khi có xe là tôi ngồi thụp xuống núp trong bụi, đợi xe qua rồi xốc gạo lên vai đi tiếp. Lâu lâu mới có xe, hầu hết là quân xa. Lúc mỏi nhừ chân ê ẩm vai thì có ánh điện xa xa. Tôi mừng quýnh. Ánh điện hắt lên trời làm màn đêm như phết màu. Mỗi lúc một thêm sáng, rồi có tiếng xe máy, tiếng nhạc phát vang vang. Thị tứ hiện ra, chưa phải là phố chính Puerto Princesa mà là một huyện ngoại ô. Tôi cúi gầm mặt đi sát tường, sợ người ta phát giác. Cuối đường là chợ lồng sáng trưng. Tôi đổi bao gạo sang vai trái để che mặt, và đi nép sát các cửa tiệm đóng im ỉm để không ai chú ý. Một xe Cảnh Sát đi ngang, chạy chầm chậm, tôi run bắn nhưng rồi xe chạy luôn. Tôi băng qua đường, một vài dân Phi nhìn nhưng không ai nói gì. Tôi bước vào lồng chợ, trống ngực đánh thùm thụp. Các gian hàng sáng lóa điện néon. Tôi cố đi bình thản, ra vẻ bình thường, ngó lơ mọi thứ không nhìn thẳng mặt ai. Mấy hàng chè đủ màu làm tôi chảy nước miếng, hàng bánh trái làm tôi đói cồn cào. Tôi nuốt nước miếng, liếc ngang dọc rồi vụt thấy mấy lu gạo ở một gian bên trái. Tôi tiến đến, ấp úng: “.. Sell.. rice… Sell rice…” Tôi chỉ biết có hai chữ này do anh Hoàng dạy. Bà Phi mập mạp da ngăm ngồi trên sạp nhìn đăm đăm rồi lấy mấy ngón tay to bằng quả chuối bốc gạo khi tôi tháo dây buộc bao cát. Bà vốc vốc gạo, vò vò, đưa lên mũi ngửi, khoắn sâu xuống bới lên xem có cùng loại gạo rồi chùi tay: “How much?” Bà nhấc bao lên cân.
Tôi cứng lưỡi. Tôi biết đếm số tiếng Anh nhưng không biết giá. Tôi tự trách sao không hỏi trước mấy người đi bán gạo chui trong trại. Tôi lúng túng không nói được chữ nào. “Twenty Peso.” Bà Phi moi trong cạp quần hai tờ giấy mười Peso. Tôi cầm lấy rồi đi ngay ra cửa hông. Tôi mừng kinh khủng, vừa bặm môi cố trấn tĩnh vì hãy còn run. Tính ra là bà Phi mua 1 Peso một cân gạo vì dọc đường tôi đã trút bớt mấy bận nữa cho nhẹ. Tôi ước chừng bao cát chỉ còn hơn 20 cân. Lúc đó một đô-la Mỹ đổi được 7 Peso mua được 7 chai coca.
Đường về tôi lại men theo lộ, cứ có xe là ngồi thụp xuống núp trong lùm cây. Cho đến lúc tự dưng tôi thấy có trạm gác trước mặt. Tôi sợ quíu. Sao lúc đi tôi không thấy trạm gác? Hay là bót gác ở trước khúc rừng chỗ tôi băng ra? Tôi không rõ nhưng lủi vội vào bụi tức thì vì ở trạm gác có xe tuần cảnh, lính Phi đang hút thuốc nói chuyện ồn ào. Tôi không dám đi tiếp ven lộ, vì đèn ở bót gác rất sáng và quân cảnh Phi có xe mô-tô với xe Jeep. Tôi quyết định băng rừng. Sau này tôi mới biết là quyết định sai, lẽ ra phải bò trong bụi cho hết đoạn có trạm gác rồi đi tiếp về đến gần cổng trại, khi đó mới rẽ qua ngả lỗ chó chui. Nhưng tôi sợ điếng, phải đi nhanh thật xa bót gác. Lúc này trăng đã lên, rừng như quết vôi. Gió làm lá chuyển động, cộng thêm tôi đi như chạy nên mọi thứ như di chuyển chung quanh. Đến một lúc tôi mới kịp định thần là mình đi không phương hướng. Tôi nhìn quanh không còn biết mình ở đâu nữa. Cảnh vật lúc tối lúc sáng. Mỗi khi mây che trăng thì rừng phủ bóng tối, mây lướt đi thì sáng trăng. Các gốc cây, mỏm đá giống hệt nhau, tôi không còn phân biệt đâu là trước mặt hay đằng sau và đường lộ ở phía nào. Mọi thứ chồng lên nhau và cứ tắt hiện. Tôi khát khô cổ. Tôi đi bao lâu rồi? Chừng lâu lắm. Lúc này hai đùi tôi mỏi rã rời, tay chân bị gai cào xướt, cọng kẽm ở quai dép chọc thủng lá quấn ngón chân cái làm chảy máu. Tôi phải buộc lại dép, lấy nhiều lá quấn ngón chân rồi chèn cọng kẽm lên bên trên rồi lấy dây buộc lại. Tôi đi nữa, cắm đầu đi đại. Đi nữa, thêm một đoạn nữa, một đoạn nữa cho đến lúc tôi thở hổn hển ngồi dụi xuống gốc đa, thở đứt quãng vì đuối sức. Tôi mệt lả. Giờ thì tôi biết chắc là đi lạc. Không thể nào đi lâu như vậy mà vẫn bít bùng trước mặt. Tôi sợ điếng là nếu lạc trong rừng đến sáng là tiều phu Phi sẽ phát hiện báo tuần cảnh, là tôi sẽ bị bắt, bị đánh đập nhốt chuồng khỉ và sẽ bị tịch thu 20 Peso.
Chữ M hiện ra lúc đó. Một chữ M trắng bạc lung linh như giát kim tuyến. Chữ M óng ánh sáng rựng. Tôi lao đến. Đúng là chữ M tôi đã khắc lên thân cây lúc này chảy nhựa và mủ đang phản chiếu ánh trăng. Tôi mừng điên. Cứ năm mươi bước chân một chữ M lóng lánh hiện ra, giống Thanh Mai đang dẫn đường. Tôi gọi Mai, Mai mỗi khi thấy chữ M. Tôi về đến trại lúc gần hừng đông.
Tôi không bao giờ biết những cánh thư nhắn tin Vũ Thị Thanh Mai của mình ai nhận. Tôi đã chọn một tảng đá ngầm phẳng phiu và nằm nhiều buổi trên tảng đá dưới nắng nhiệt đới nắn nót viết mười hai lá thư. Ban đầu tôi viết thư tình nhưng viết xong xé bỏ vì thấy quá cải lương. Viết lại nhiều thư khác cũng không hài lòng, vo quăng xuống cát cho đến khi sóng biển tràn lên, tôi nhìn xuống thấy các trang giấy vo tròn của mình đang bị sóng cuốn trôi xa. Sau cùng tôi viết vắn tắt: “Vũ đã đến trại tỵ nạn Palawan, Mai viết thư cho Vũ về địa chỉ này, rất mong tin Mai. Vũ nhớ Mai. Ký tên Lưu Linh Vũ, Lớp 11C1.”
Mỗi chiều tôi chầu chực trước loa phóng thanh nghe đọc tên những ai có thư lên nhận cho đến khi loa im bặt. Bao nhiêu chiều tôi hy vọng, nôn nóng bồn chồn rồi thất vọng. Mãi mãi không có cánh thư nào cho tôi. Phải sau này tôi mới biết Thanh Mai sớm đi định cư chỉ sau một tháng ở trại tỵ nạn Mã Lai nên đã không bao giờ nhận được lá thư nào tôi viết. Chúng tôi tiếp tục thất lạc mãi cho đến năm 2009 mới gặp lại ở California. Tôi kể cho Thanh Mai nghe về tặng phẩm của rừng đã cho tôi chữ M lúc tuyệt vọng. Chúng tôi kết hôn ngày 4 tháng 9 năm 2012.
Trần Vũ, Buena Park, 23 tháng 11-2025
