
Nguyên Sa qua nét vẽ Tạ Tỵ và Nguyên Khai
“Tôi thích được giới thiệu bằng cách đọc lên một bài thơ Nguyên Sa,” nhiều người vẫn nhắc câu nói ấy của nhà thơ Nguyên Sa khi ông còn tại thế. (1) Tôi tin là ông cũng muốn được tưởng nhớ bằng cách ấy, đọc lên một bài thơ Nguyên Sa, sau ngày ông rời bỏ cõi đời này.
Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông
Gần đây, trong những lúc nói chuyện với nhóm bạn yêu thơ phú, tôi hay đặt câu hỏi, “Nếu chọn để đọc lên một bài thơ của Nguyên Sa, anh/chị sẽ đọc bài nào?” và ghi nhận được đôi điều thú vị từ những câu trả lời. Thứ nhất, những bài được chọn đều là thơ tình và hầu hết nằm trong thi tập Thơ Nguyên Sa đầu tiên (sau này gọi là Thơ Nguyên Sa, Tập Một). Thứ hai, nhiều người chọn giống nhau một bài thơ. Thứ ba, có người không nhớ tên bài thơ, nói “Tôi chọn bài gì có câu thơ Hãy biến cuộc đời thành những tối tân hôn”. Thứ tư, bài thơ được chọn nhiều nhất là bài “Áo Lụa Hà Đông”.
Cuộc “trắc nghiệm” này cho thấy không người yêu thơ nào mà không biết ít nhất một bài thơ hoặc câu thơ nào của Nguyên Sa. Không ngạc nhiên khi “Áo lụa Hà Đông” là bài thơ được yêu chuộng nhất. Những người chọn bài thơ này bật ra ngay tên bài thơ trong lúc người chọn bài khác thường do dự, ngần ngừ ít giây. “Áo Lụa Hà Đông” là bài thơ quen thuộc nhất với người yêu thơ Nguyên Sa, nằm ngay trên trang thơ đầu của thi tập Thơ Nguyên Sa, Sáng Tạo xuất bản năm 1958. Bài thơ nằm im lìm trong thi tập, đến năm 1969 được gắn cho đôi cánh nhạc, từ dạng “tĩnh” chuyển sang “động”, bay ra khỏi trang thơ đến với người yêu nhạc (nhạc sĩ Ngô Thụy
Miên phổ thành bài nhạc cùng tên). Bài nhạc phổ thơ được phổ biến rộng rãi, nhiều người hát nhiều người nghe, trình diễn trên những sân khấu ca nhạc. Trong các cuộc thi hoa hậu chẳng hạn, cứ đến tiết mục thi áo dài truyền thống là ban nhạc lại trổi lên bài “Áo Lụa Hà Đông”. Bài thơ chuyển thể thành bài hát, câu thơ thành câu hát. Người nghe vừa nghe nhạc, vừa nghe thơ, tuy người nhạc sĩ không phổ trọn bài thơ. Có thể nói đây là bài thơ được “nghe” nhiều nhất của Nguyên Sa.
Khi đặt câu hỏi với các bạn mình, tôi cũng tự chọn cho mình một bài thơ nào của Nguyên Sa. “Áo lụa Hà Đông” không phải là bài thơ tôi chọn. Tôi nhớ, lần đầu lật qua những trang thơ của Thơ Nguyên Sa, tôi đã không dừng lại ở “Áo Lụa Hà Đông”, hay chỉ dừng lại một chút ở câu thơ.
Anh vẫn nhớ em ngồi đây, tóc ngắn
mà mùa thu dài lắm ở chung quanh
Trong đầu tôi bật ra câu thơ của Vũ Thành, “nhà thơ của màu tím” một thuở nào.
Tóc em ngắn, mùa thu ngừng ở đó
Tay anh dài trên từng ngón bơ vơ - (Áo Tím)
Hai bài thơ cùng nói về người yêu “mùa thu tóc ngắn”, cũng một giọng thơ, cũng “mắt nhìn vụng dại”, cũng “em chợt đến chợt đi”, cũng “yêu màu áo ấy vô cùng”. Thơ Nguyên Sa có mới hơn một chút với những “sám hối chạy trên môi”, “nhị hỷ của tâm hồn” hay
Linh hồn anh vội vã vẽ chân dung
Bày vội vã vào trong hồn mở cửa
Những cô nữ sinh ngày ấy vẫn chuyền tay nhau, nắn nót chép tay những “Tuổi 13”, “Cần Thiết”, “Tương Tư”, “Tháng Sáu Trời Mưa”… hơn là bài “Áo Lụa Hà Đông”.
Không có anh lấy ai đưa em đi học về
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
Ai lau mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa - (Cần Thiết)
Lấy ai viết thư cho em mang vào lớp học
Ai lau mắt cho em ngồi khóc
Ai đưa em đi chơi trong chiều mưa - (Cần Thiết)
Tôi cũng vậy, cũng thích những bài thơ tình khác của Nguyên Sa hơn là “Áo Lụa Hà Đông”, không rõ vì sao. Sau này tôi hiểu ra. Ông Nguyên Sa hẳn có nhiều kỷ niệm với “màu áo lụa Hà Đông” ấy, ông lặp lại đến hai lần “Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng”, trong lúc tôi và nhiều người lại chẳng có dây mơ rễ má gì với áo lụa Hà Đông Hà Tây ấy cả. Chỉ những ai từng có thời kỳ sống ở Hà Nội, từng “xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu” (2) may ra mới có chút tìnhvới vạt áo lụa này. Nói “may ra” vì nhiều vị trong số này khi được hỏi đến cũng chẳng biết gì nhiều về món “đặc sản” của xứ Hà Đông ấy.
Nhà văn Hoàng Hải Thủy chào đời ở Hà Đông năm 1933, còn có bút danh là “Công tử Hà Đông”, vẫn tỏ ra sành sỏi nhiều giai thoại lý thú, từng thú nhận là “mù tịt” về cái khoản “lụa Hà Đông” này.
“Thi sĩ Nguyên Sa làm cho tỉnh Hà Ðông nổi tiếng khắp nước. Thị xã Hà Ðông không có gì đặc biệt… Vì ở quá gần Hà Nội, Hà Ðông bị Hà Nội đè bẹp, không chỉ bẹp mà là dẹp lép. Thị xã Hà Ðông bên hông Hà Nội không sao phát triển được.
Thị xã Hà Ðông không có gì đặc biệt, nhưng tỉnh Hà Ðông có Lụa Hà Ðông. Chỉ có tỉnh Hà Ðông mới có Lụa Hà Ðông, những tỉnh khác ở Bắc Kỳ không tỉnh nào có. Thi sĩ Nguyên Sa là người làm cho người Việt Nam cùng thời với ông, và những người Việt đến cõi đời này sau ông, biết đến cái gọi là ‘Lụa Hà Ðông’, biết cái Lụa Hà Ðông ấy được sản xuất ở tỉnh Hà Ðông… Là ‘công tử Hà Ðông’ nhưng tôi lại mù tịt về chuyện Lụa Hà Ðông. Tôi không biết làng nào ở Hà Ðông dệt thứ Lụa nổi tiếng ấy. Tôi không biết nên không dám ba hoa gì về chuyện đó.” - (“Hà Đông bên hông Hà Nội”, https://hoanghaithuy.wordpress.com, 25/8/2011)
Thậm chí, nhiều nhà văn, nhà thơ miền Bắc cũng không mặn mà gì với món hàng nội hóa này. Nhà thơ Xuân Quỳnh chẳng hạn, sinh trưởng ở thị xã Hà Đông, tỉnh Hà Đông, có lắm bài thơ tình được yêu chuộng, cũng không hề có lấy bài thơ, câu thơ nào viết về địa danh Hà Đông và mặt hàng tơ lụa truyền thống này. Họa chăng chỉ có ở trong những câu ca dao thuở xưa về vải vóc, lụa là.
Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng
Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông
Vải tơ Nam Định, lụa hàng Hà Đông
Hoặc
Em về Vạn Phúc cùng anh
Áo lụa em mặc thêm thanh vẻ người
Áo lụa em mặc thêm thanh vẻ người
Làng lụa Vạn Phúc hay làng lụa Hà Đông thuộc thị xã Hà Đông, Hà Nội, là một làng “chuyên trị” nghề dệt lụa tơ tằm từ ngàn năm trước, nổi tiếng với những khung cửi, những lụa, là, gấm, vóc, vân, the. Chuyện trồng dâu, nuôi tằm là chuyện ngày xửa ngày xưa, thuở ruộng đồng còn bát ngát, mênh mông, chưa “quy hoạch” thành những đường phố đông đúc, chật chội như bây giờ. Mỏng, mềm, mịn, mát là “đặc trưng” của tấm lụa Hà Đông, chả trách “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát”.
Người miền Bắc hẳn là phải cám ơn thi sĩ Nguyên Sa, người đã đưa Hà Đông, mảnh đất “không có gì đặc biệt” ấy vào thi ca, làm rạng danh một “Hà Đông bên hông Hà Nội”. Đồng thời, cũng tôn vinh một sản phẩm nội hóa gần như mai một thành món “hàng độc” rất đáng tự hào của “miền Bắc ta”. “Áo Lụa Hà Đông” mềm mại, dịu dàng của miền Bắc không giống như “Sư tử Hà Đông” đanh đá, dữ dằn ở bên Tàu. “Áo Lụa Hà Đông” trong thơ Nguyên Sa lung linh tỏa sáng.
Em không nói đã nghe lừng giai điệu
Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh
Em chưa nhìn mà đã rộng trời xanh
Có một chữ trong câu thơ trên nhiều phiên bản, nhiều “ngâm sĩ” vẫn hay nhầm lẫn. Chữ “lừng”, không phải “từng”, không phải từng âm thanh, từng nốt nhạc. Lừng khác với từng. “Lừng” có nghĩa vang rền. “Em không nói đã nghe lừng…”, không phải “nghe từng giai điệu”. Bài thơ tám chữ, nhưng lại lọt vào hai câu thơ chín chữ.
Gặp hai hôm (thành) nhị hỷ của tâm hồn…
Anh (đã) trông lên bằng đôi mắt chung tình
Anh (đã) trông lên bằng đôi mắt chung tình
Lần tái bản sau cùng (Thơ Nguyên Sa toàn tập), chữ “đã” được lấy ra để trả câu thơ về tám chữ. Thiếu chữ vần “trắc” ấy, câu thơ mất sức nâng, chìm xuống, nhịp thơ chông chênh.
Dù có thế nào, dù yêu hay không yêu tấm áo lụa Hà Đông, đấy vẫn là bài thơ Nguyên Sa được nhắc tên nhiều nhất. Bài thơ như gắn liền tên người thi sĩ. Áo Lụa Hà Đông-Nguyên Sa, hay Nguyên Sa-Áo Lụa Hà Đông.
Sài Gòn gối đầu trên cánh tay

Tranh: họa sĩ Duy Liêm
Miền Nam có nhiều thi sĩ, nhiều người làm thơ hay, nhưng lại có rất ít bài thơ về Sài Gòn, về “thủ đô văn hóa Việt Nam”, cách gọi của nhà văn Mai Thảo. Trong khi ấy, Hà Nội mà những văn nghệ sĩ bỏ lại sau lưng khi rời bỏ miền Bắc vào Nam lại được nhắc tên trong nhiều bài thơ với nỗi nhớ nhung, luyến tiếc.
Kể ra cũng bất công và thiệt thòi cho Sài Gòn. Lẽ nào người ta lại quên đi cái mình đang có mà ôm lòng tiếc nhớ mãi những gì đã mất tăm.
Nhiều văn nghệ sĩ, sau ngày định cư ở miền Nam tự do vẫn “chúng ta đi mang theo quê hương” miền Bắc.
Hà Nội yêu, anh vẫn yêu muốn khóc
Mấy chục năm, xa đến mấy nghìn năm…
Hà Nội yêu, vẫn y nguyên tưởng nhớ
Nên nghìn năm vẫn ngỡ mới hôm qua
Mấy chục năm, xa đến mấy nghìn năm…
Hà Nội yêu, vẫn y nguyên tưởng nhớ
Nên nghìn năm vẫn ngỡ mới hôm qua
Những câu thơ ấy ở trong bài thơ “Yêu em, Hà Nội” của Hoàng Anh Tuấn.
“Yêu em, Hà Nội”, nghe tha thiết quá! Giá mà đổi được thành “Yêu em, Sài Gòn”, thành “Sài Gòn yêu, anh vẫn yêu muốn khóc” nghe càng tha thiết hơn và người Sài Gòn hẳn cũng… muốn khóc theo. Vẫn y nguyên tưởng nhớ, vẫn không làm sao quên, nhà thơ kể ra vanh vách “Hà Nội 36 phố phường”. Hàng dọc hàng ngang, không sót hàng nào.
Em Hà Nội hàng Đường trong giọng nói
Để hàng Bông êm ái lót cơn mơ…
Ôi hàng Ngang tội nghiệp mối tình đầu
Anh hờn giận mơ hàng Buồm lãng tử
Hàng Vôi đó nồng nàn trong ngây ngất
Ý hàng Đào chín mọng trái môi chia
Xin hàng Than rực cháy lửa đam mê
Khi quấn quít trong ái ân Hà Nội - (“Bài Thơ Hà Nội”, Hoàng Anh Tuấn)
Để hàng Bông êm ái lót cơn mơ…
Ôi hàng Ngang tội nghiệp mối tình đầu
Anh hờn giận mơ hàng Buồm lãng tử
Hàng Vôi đó nồng nàn trong ngây ngất
Ý hàng Đào chín mọng trái môi chia
Xin hàng Than rực cháy lửa đam mê
Khi quấn quít trong ái ân Hà Nội - (“Bài Thơ Hà Nội”, Hoàng Anh Tuấn)
Những câu thơ thật là đẹp! Sài Gòn lại chẳng có được “hàng” nào để sánh đôi tình Bắc duyên Nam với Hà Nội, nhiều lắm chỉ có ít vần thơ trong bài Học Thuộc Lòng trên trang sách giáo khoa bậc Tiểu Học.
Sài Gòn có bến Chương Dương
Có dinh Độc Lập, có đường Tự Do
Phường Chợ Quán, khóm Cầu Kho
Bến xe Lục Tỉnh, con đò Thủ Thiêm - (“Sài Gòn”, Bảo Vân)
Có dinh Độc Lập, có đường Tự Do
Phường Chợ Quán, khóm Cầu Kho
Bến xe Lục Tỉnh, con đò Thủ Thiêm - (“Sài Gòn”, Bảo Vân)
Thật may một điều, người Sài Gòn còn có Nguyên Sa. Sớm nhận ra những thiệt thòi, bất công ấy, sau những “Giữ hộ anh màu áo lụa Hà Đông”, những “Mai anh về giữa bến sông Seine” nhà thơ đã đền cho Sài Gòn một bài thơ khác, bài thơ thổ lộ tình yêu với một “Sài Gòn gối đầu trên cánh tay”. Có đi Tây đi Tàu, đi xa đi gần gì rồi cũng quay về với “Tám phố Sài Gòn”.
Bài thơ, theo lời kể của nhà thơ trong tập Hồi Ký, được gửi cho tạp chí Văn, số Xuân Ất Tỵ năm 1965 theo “đơn đặt hàng” của Chủ nhiệm tạp chí này, muốn có một bài thơ Xuân.
Sao gọi là “Tám phố Sài Gòn”? Nhà thơ lấy ở đâu ra con số ấy? Trước và sau Nguyên Sa không thấy ai gọi Sài Gòn cách ấy cả. Nhà thơ cũng không có lời giải thích nào khi còn sinh tiền và cũng không ai chịu hỏi han cho ra lẽ nên bây giờ chỉ có đoán già đoán non, không giải mã nổi hoặc muốn hiểu sao thì hiểu. Đọc suốt bài thơ, tìm quanh quất thấy có mỗi con phố Bonard, còn lại chỉ phất phơ những “Sài Gòn nắng hay Sài Gòn mưa”, “Sài Gòn cười đôi môi rất tròn”…
Cũng không lạ, câu, chữ trong thơ Nguyên Sa lắm khi “khó đoán”, nửa hư nửa thực một cách có dụng ý, có lúc lại như đùa nghịch, tung hứng với chữ nghĩa.
Không thấy phố xá nào cả, “tám phố” ấy nhiều phần là tám khổ thơ của bài thơ bảy chữ. Giá như gọi “Tám miếng Sài Gòn” chẳng hạn, người đọc không phải khó đoán. Tám “miếng thơ” ấy, miếng nào cũng đậm chất Sài Gòn.
Sài Gòn trong thơ Nguyên Sa hóa thân làm người em gái Sài Gòn, làm cô nữ sinh trẻ trung, duyên dáng và thanh lịch.
Sài Gòn phóng Solex rất nhanh
Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants
Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants
Một Sài Gòn mơ màng và quyến rũ.
Sài Gòn gối đầu trên cánh tay…
Đôi mắt trông vời theo ánh trăng
Đôi mắt trông vời theo ánh trăng
Một Sài Gòn tình tứ và gợi cảm.
Cánh tay tà áo sát vòng eo…
Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân
Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân
Kể ra không hết, “tám phố” chứ đâu phải ít. Sài Gòn những tà áo màu lất phất trong gió chiều, Sài Gòn lượn xe trên đường phố dài, Sài Gòn ôm cặp sách vào thư viện, Sài Gòn những cơn mưa bóng mây, Sài Gòn dạo phố lớn Bonard, Sài Gòn âu yếm gọi nhau bằng “cưng”… Sài Gòn như không thể Sài Gòn hơn.
Sài Gòn không khoác lác, không khoe mã. Sài Gòn có sao nói vậy. Bài thơ chỉ vài nét phác, như bức ký họa nhưng thật sinh động. Gọi “phố Sài Gòn” cũng được, gọi “người Sài Gòn” cũng xong.
Sài Gòn muôn màu muôn vẻ, tươi vui và đầy sức sống. Bài thơ không phải là thơ Xuân nhưng “tám phố Sài Gòn” ấy đủ mang về một mùa xuân.
Guốc cao gót nhỏ mây vào gót
Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ
Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ
Câu thơ tôi thích nhất trong bài. Câu thơ đậm chất Nguyên Sa. Áo dài bồng bềnh như dải mây vương, như dải trăng thu huyền ảo. Chưa thấy ai tả vạt áo dài thướt tha trên đường phố như thế cả.
Tiếc một điều, “Tám phố Sài Gòn” ấy chỉ còn là những hoài niệm đẹp sau ngày Sài Gòn thay tên đổi chủ. Sài Gòn không tìm đâu thấy nữa. Sài Gòn đã xa như dĩ vãng.
“Bên thắng cuộc”, những người chủ mới đã làm mọi cách để Sài Gòn biến mất, để xóa sạch mọi dấu vết của Sài Gòn. Người ta muốn xóa bỏ tên Sài Gòn trong trái tim của người miền Nam. Người ta muốn “dìm hàng” vì mặc cảm thua kém người Sài Gòn.
Không chỉ thay tên đổi họ, người ta còn muốn Sài Gòn đi chỗ khác chơi cho khuất mắt. “Chỗ khác” ấy là một phường nào đó của một quận nào đó. Tin báo trong nước gần đây cho hay: “UBND thành phố cho biết, quận 1 sẽ được tổ chức lại thành 4 phường mới và sẽ đặt tên ‘Sài Gòn’ cho một trong 4 phường này.”
Không chỉ người Sài Gòn cũ mà nhiều học giả, nhà nghiên cứu, nhà văn nhà thơ và cựu quan chức của “Bên thắng cuộc” cũng lấy làm “bức xúc” và lên tiếng phản kháng về “ý đồ” đen tối trong việc sắp xếp lại và đặt tên cho các đơn vị hành chính cấp phường, xã này:
“Sài Gòn từng là một đô thị lớn nhất nước, từng có lúc gọi là Hòn Ngọc Viễn Đông. Với tầm vóc lớn lao như vậy mà nay lại đem "nhốt" vào trong một phường, đặt tên cho một đơn vị hành chính cấp phường là một sự xúc phạm với lịch sử, là thiếu tôn trọng văn hóa và niềm tự hào dân tộc.”
Đặt tên Sài Gòn cho một cái phường phất phơ nào đó, rồi ít năm sau đó chỉ việc thay cái tên phường ấy đi là vĩnh viễn loại bỏ Sài Gòn ra khỏi đời sống của người miền Nam và cả nước. Quả là không có “phương án” nào tối ưu hơn.
Sài Gòn trong thơ Nguyên Sa khi ấy mới thực sự là Sài Gòn của “một thời để yêu và một thời để chết”, như tựa của cuốn phim và tiểu thuyết nổi tiếng phổ biến ở Sài Gòn thuở trước.
* * *
“Bạn đọc có thể thắc mắc khi thấy vắng mặt nhiều nhà thơ quen thuộc (những Quách Thoại, Thanh Tâm Tuyền, Nguyên Sa). Đó là vì thi hứng của những nhà thơ nọ không chảy tới dòng thơ lục bát.”
Những dòng trên đọc được trên tờ Tạp chí Văn trong số báo chủ đề về thơ lục bát (“Lục bát bây giờ”, Tạp chí Văn số 44, ngày 15/10/1965).
Đã có lúc những người yêu thơ Nguyên Sa cứ ngỡ là như vậy, ngỡ như nguồn thi hứng của nhà thơ “không chảy tới dòng thơ lục bát”. Thế nhưng, không hẳn là vậy. Nhà thơ cho biết, bài lục bát đầu tiên đến với ông thật bất ngờ vào năm 1966. Kể từ đó, không chỉ miệt mài với thơ lục bát, ông còn bộc lộ tình yêu thiết tha và gắn bó với thể thơ truyền thống của dân tộc này qua Cuộc Hành Trình Tên Là Lục Bát (NXb Đời, 3/1999).
Sau những thơ năm chữ, bảy chữ, tám chữ, thơ tự do, thơ xuôi thơ ngược, sau cùng ông chọn quay về với thơ sáu tám qua cầu gió bay. Thơ lục bát Nguyên Sa cho thấy vẫn là chữ nghĩa, vẫn là ngôn ngữ thơ Nguyên Sa, vẫn là những khám phá, những đổi mới không ngừng.
Có điều, chuyện làm mới thi phú là chuyện của nhà thơ. Cho dù ông có chuyển thể, có đổi đề tài, có Thơ Nguyên Sa Tập Ba, Tập Bốn hay hơn thế nữa thì người yêu thơ ông vẫn quay về với cái thuở ban đầu, với những bài tình đầu của chàng thi sĩ được phong tặng danh hiệu “thi sĩ của tình yêu”.
Nói không ngại ông buồn, người yêu thơ chỉ “mặn” với những bài thơ tình của “Thơ Nguyên Sa, một thời để yêu”. Cái thời nắn nót chuyền tay, chép tay những bài thơ, câu thơ Nguyên Sa trong tập vở học trò hay trên những giấy pelure màu vàng hoa cúc, màu xanh lá sân trường. Cái thời của những bài thơ lóng ngóng trao tay, những bài thơ nói hộ tình yêu. Ra khỏi cái thời đó, ra khỏi những bài thơ tình ấy, ông đã là một Nguyên Sa khác.
Nói không ngại ông buồn, và tôi chắc ông cũng chẳng buồn chẳng vui. “Thành thực lúc nào tôi cũng cho tôi là một con số không. Tôi không ‘lớn’ nên tôi tự cho mình ‘vốn dĩ chỉ là hạt cát’.” Nhà thơ từng nói vậy, trả lời câu hỏi về ý nghĩa của bút danh Nguyên Sa. Cách nói không thể nào khiêm tốn hơn. Đã tự nhận mình là hạt cát hoang sơ thì còn buồn nỗi gì nữa.
Cám ơn thi sĩ Nguyên Sa, cám ơn bài thơ “Tám Phố Sài Gòn” làm cho Sài Gòn không mất đi bao giờ, làm cho những thế hệ về sau biết được rằng đã từng có một Sài Gòn như thế, như thế... Vẫn còn mãi đó những câu thơ mềm mại như tơ lụa Hà Đông, những câu thơ đọc lên nghe Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều.
Tôi đã chọn cho mình một bài thơ của Nguyên Sa để đọc lên, để tưởng nhớ. Các anh chị cũng sẽ chọn cho mình bài thơ nào chứ?
Lê Hữu
(1) “Cuối Năm Nói Chuyện Với Nguyên Sa”, Nguyễn Nam Anh, Tạp chí Văn, Xuân Mậu Dần 1998
(2) “Nỗi Lòng Người Đi”, nhạc Anh Bằng
Tám Phố Sài Gòn
Sài Gòn đi rất chậm buổi chiều
Cánh tay tà áo sát vòng eo
Có nghe đôi mắt vòng quanh áo
Năm ngón thơ buồn đứng ngó theo
Cánh tay tà áo sát vòng eo
Có nghe đôi mắt vòng quanh áo
Năm ngón thơ buồn đứng ngó theo
Sài Gòn phóng solex rất nhanh
Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants
Có nghe hơi thở cài vương miện
Lên tóc đen mềm nhung rất nhung
Đôi tay hoàng yến ngủ trong gants
Có nghe hơi thở cài vương miện
Lên tóc đen mềm nhung rất nhung
Sài Gòn ngồi thư viện rất nghiêm
Tờ hoa trong sách cũng nằm im
Đầu thư và cuối cùng trang giấy
Tờ hoa trong sách cũng nằm im
Đầu thư và cuối cùng trang giấy
Những chữ y dài trông rất ngoan
Sài Gòn tối đi học một mình
Cột đèn theo gót bóng lung linh
Mặt trăng theo ánh đèn: trăng sáng
Đôi mắt trông vời theo ánh trăng
Cột đèn theo gót bóng lung linh
Mặt trăng theo ánh đèn: trăng sáng
Đôi mắt trông vời theo ánh trăng
Sài Gòn cười đôi môi rất tròn
Vòng cung mầu đỏ, nét thu cong
Cầu vồng bắc giữa mưa và nắng
Hay đã đưa dần sang nhớ mong
Vòng cung mầu đỏ, nét thu cong
Cầu vồng bắc giữa mưa và nắng
Hay đã đưa dần sang nhớ mong
Sài Gòn gối đầu trên cánh tay
Những năm mười sáu mắt nhìn mây
Chiếc tay tròn ánh trăng mười bốn
Tiếng nhạc đang về dang cánh bay
Những năm mười sáu mắt nhìn mây
Chiếc tay tròn ánh trăng mười bốn
Tiếng nhạc đang về dang cánh bay
Sài Gòn nắng hay Sài Gòn mưa
Thứ Bảy Sài Gòn đi Bonard
Guốc cao gót nhỏ mây vào gót
Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ
Thứ Bảy Sài Gòn đi Bonard
Guốc cao gót nhỏ mây vào gót
Áo lụa trăng mềm bay xuống thơ
Sài Gòn mai gọi nhau bằng cưng
Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân
Lưng trời không có bầy chim én
Thành phố đi về cũng đã xuân.
Vành môi nghiêng cánh xuống phân vân
Lưng trời không có bầy chim én
Thành phố đi về cũng đã xuân.
Nguyên Sa
(Thơ Nguyên Sa, Tập Hai)
Nguồn: Tác Giả gởi
