
I. Cung Trầm Tưởng: Mười Lăm Tuổi Đã Xuất Bản Tập Thơ Đầu Tay
Có nhiều người làm thơ từ rất sớm, như Cung Trầm Tưởng. Ông đã có hẳn một tập thơ khi vừa mới vào tuổi mười lăm.
Cung Trầm Tưởng là một tên tuổi của thi đàn miền Nam trước năm 1975, nhất là sau khi được Phạm Duy phổ một loạt các bài như: Mùa Thu Paris, Tiễn Em, Bên Ni Bên Nớ, Chiều Đông, Kiếp Sau.
Ông cũng vừa mới qua đời gần đây, tháng 10. 2022 tại Hoa Kỳ, thọ chín mươi mốt tuổi.
******
II. Cung Trầm Tưởng: Tình Yêu, Chiến Tranh, Ly Hương Và Nỗi Buồn Thân Phận
Giọng thơ Cung Trầm Tưởng khá lạ so với các tác giả cùng thời, nhưng vẻ buồn, nét buồn, trong ẩn ý, trong gởi trao, trong chữ thơ, điệu thơ, nhịp thơ thì cũng không mấy khác:
bãi nhăn nhàu vết lăn xưa
một xe thổ mộ nằm trơ gỗ gầy - (Năm Tháng Lưu Đày)
Buồn, nhưng lúc nào cũng nồng nàn, tha thiết:
anh ngồi vẽ nắng rồi mưa
vẽ thêm tâm tưởng cho vừa ý em - (Công Chúa)
Bên cạnh đó, cuộc chiến tranh hai mươi năm nồi da xáo thịt của quê hương, cũng khiến thơ ông sau này, có thêm cả giọng châm biếm, giễu nhại, mỉa mai, khinh bỉ, đớn đau:
nếu vì cuồng vọng một người
một triệu người phải ngã xuống
vải tang sô không đủ để quấn đầu
muộn sầu triệu nàng góa phụ
vật vờ triệu mụn con côi - (Chúc Thư Của Một Người Lính Vô Danh)
Và, cả những triết lý:
sống là một thứ đi buôn
mang thân bán vốn còn hồn cho thuê - (Thân Phận)
Nhà thơ Giang Hữu Tuyên từng có nhận xét, nếu thơ của Cung Trầm Tưởng trước đây diễm lệ và khuê các bao nhiêu, thì thơ ông, về sau này, lại hoành tráng và phẫn nộ bấy nhiêu.
Thơ Cung Trầm Tưởng giàu nhạc điệu, giàu hình ảnh và trầm lắng như chữ lót “trầm” trong tên ông vậy: tiếng thơ trầm, tiếng lòng trầm, thu vào trong, ẩn vào trong. Thi từ sử dụng thì nhẹ nhàng mà vẫn không kém phần uyển chuyển, linh hoạt, tinh tế:
trời hay thu khóc ủ ê
cổ cao áo kín đi về đường tôi - (Đêm Sinh Nhật)
******
III. Cung Trầm Tưởng: Người Tình Trăm Năm Của Lục Bát
Chỉ với bảy tập thơ được ra đời trong suốt sáu mươi năm, nhưng với đề tài lãng mạn, được ưa chuộng lúc bấy giờ như, tình yêu, ly hương, và sau này là tù đày, thơ ông vẫn thu hút được nhiều bạn đọc, nhất là giới trẻ cùng thời.
Đi đây đi đó nhiều, chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây nhiều, nhưng ông luôn một mực khẳng định, tôi là người Việt Nam, tôi phải tìm đủ mọi cách để trở về nguồn (trả lời phỏng vấn của Thụy Khuê).
Ông nói, thơ là căn bản của ngôn ngữ. Khi Thanh Tâm Tuyền hỏi ông, sao đến giờ vẫn còn làm thơ lục bát? Ông đã trả lời, tôi thấy thơ lục bát vẫn chưa hoàn tất, tôi muốn tiếp tục con đường ấy:
mai sau ngủ gốc cây sồi
làm thiên thu chiếc miếu ngồi thờ em. - (Đường Vào Thiên Thu)
******
IV. Bài Thơ Tương Phản
Cung Trầm Tưởng viết Tương Phản khi ông mới chỉ vừa mười tám tuổi, tại ĐaKao, Sài Gòn. Chỗ ông ở, lúc ấy, là một nghĩa địa hoang vắng, cô tịch. Đó là những năm 50 thuộc thế kỷ trước.
Khi ấy, đất rộng, người thưa, chung quanh trung tâm Sài Gòn, thì dù là quận Ba, quận Mười, hay quận Phú Nhuận, cũng vẫn: đường về canh thâu, đêm khuya ngõ sâu, vàng ánh điện câu, đêm tha hương, đêm cô liêu (Xóm Đêm - Phạm Đình Chương).
Nhà giàu và nhà nghèo khi ấy, giống hệt vua chúa và hạng cùng đinh, phân cách dữ lắm, một trời một vực, như trong ca khúc Kiếp Nghèo mà Lam Phương từng mô tả: đường về đêm nay vắng tanh, lạnh lùng mưa xuyên áo tơi, lầy lội qua muôn lối quanh, gập ghềnh đường đê tối tăm, ngập ngừng dừng bên mái tranh, kiếp sống tha hương, thân gầy gò gửi cho gió sương.
Tương Phản
Đêm chớm ngày tàn
Theo tiếng xe lăn về viễn phố
Em ơi
Sương rơi
Ngoài song đêm hạ
Ôi buồn phố xá
Hoang liêu về chết tha ma
Tiếng chân gõ guốc: người xa vắng người
Em có nghe dồn dã
Bước ai vất vả
Bóng ai chập chờn
Hồn ai cô đơn
Say sưa tìm về ấm cúng
Em có nghe bi ai
Tình ai ấp úng
Thương ai lạc loài
Ăn mày xán lạn một ngày mai
Đêm nay say đất lở
Em có nghe rạn vỡ
Ra muôn mảnh ly rơi
Pha lê vạn chuỗi cười
Bên nớ dạ thành khoe tráng lệ
Trơ trẽn giai nhân phô lõa thể
Bên ni phố vắng lòng ngoại ô
Em có nghe mơ hồ
Bước ai thao thức
Gõ nhịp hẹn hò
In dài ngõ cụt
Bóng ai giang hồ
Bên nớ bên ni đêm lạnh cả
Lạnh đêm mà chẳng lạnh vuông phòng
Em ơi bên trong
Dù chia ly đôi phút
Đồng mang nhớ đèo mong
Hai tâm hồn giam kín
Bốn mắt xanh bịn rịn
Anh ngồi làm thơ
Anh ngồi bấm đốt con thơ ra đời
Bên ngoài liếp ngõ sương rơi
Bên trong kín gió ấm ơi là tình!
Bài thơ Tương Phản, sau đó, được Phạm Duy phổ thành ca khúc Bên Ni Bên Nớ, và chỉ giọng ca liêu trai Khánh Ly, mới có thể khiến người nghe, cảm ra được chất hư hư thực thực của những tương phản hằng có trong cuộc đời bể dâu, khốn khó.
******
IV.1. Ôi Buồn Phố Xá
Đêm chớm ngày tàn
Theo tiếng xe lăn về viễn phố
Em ơi
Sương rơi
Ngoài song đêm hạ
Ôi buồn phố xá
Khổ một của bài thơ là những dòng chữ rời rã, là tiếng kêu rời rã của chàng trai bước vào tuổi trưởng thành. Tuổi trưởng thành là tuổi gì? Tuổi trưởng thành, trong con mắt nhìn của thế kỷ trước, là tuổi của lập thân, lập nghiệp, lập chí. Đó là tuổi của gánh vác trách nhiệm, trách nhiệm đối với non sông đất nước, trách nhiệm đối với gia đình, và trách nhiệm đối với chính mình nữa.
Chàng trai nghe mình chìm vào bế tắc.
Đêm mới chớm thôi, ngày tàn. Theo tiếng xe lăn về cuối phố xa, là những giọt sương rơi. Đêm khép cửa song, khép cả tâm hồn, khép cả niềm vui và hạnh phúc.
Để tác giả phải thảng thốt gọi: em ơi, em ơi.
Nỗi buồn phố xá!
******
IV.2. Người Xa Vắng Người
Trái với thể tự do ở khổ một, khổ hai là một cặp thơ lục bát:
Hoang liêu về chết tha ma
Tiếng chân gõ guốc: người xa vắng người
Mười tám tuổi, mà dụng từ rất tài. Hoang liêu, hoang vắng, hiu quạnh, lạnh lẽo, trống vắng rủ nhau về chết ở bãi tha ma, nghĩa địa.
Viết đến đây, tôi bỗng nhớ một đoạn trong bài Thơ Cũ Của Nàng của nhà thơ Trần Dạ Từ, cũng buồn nản, nhưng xem ra, vẫn có phần nhẹ nhàng hơn một chút, so với Cung Trầm Tưởng: Người đi qua đời tôi / Nghe những lời linh hồn / Phi lao dài tiếng ru / Êm ái lòng hối tiếc / Trên lối về nghĩa trang / Trong mộ phần tối đen.
Chắc nhờ ông Trần Dạ Từ có xen vào các ngữ “dài tiếng ru”, “êm ái lòng”, mà làm cho câu thơ bỗng trở nên dịu hơn, vợi hơn chăng?
Giữa một khung cảnh hoang liêu, hoang vắng, và giữa một tâm hồn hiu quạnh, lạnh lẽo, đang rủ nhau về chết ở bãi tha ma, nơi chôn người, thì chàng lãng tử nghe ra từ tiếng guốc ai đang gõ nhịp trên đường về: tiếng chân gõ guốc người xa vắng người.
Xã hội càng tiến bộ, xã hội càng đi lên, thì khoảng cách giữa người và người, sẽ ngày mỗi lớn dần thêm.
Đến mức, chẳng còn ai cùng ta, chẳng còn ai bên ta - người xa vắng người!
******
IV.3. Say Sưa Tìm Về Ấm Cúng
Em có nghe dồn dã
Bước ai vất vả
Bóng ai chập chờn
Hồn ai cô đơn
Say sưa tìm về ấm cúng
Ở khổ thơ thứ ba này, Cung Trầm Tưởng lại trở về với thể thơ tự do. Tự do mà rất vần, nên rất điệu. Điệu đây không phải là cách điệu, điệu đàng. Điệu đây là giai điệu, là nhạc tính của thơ.
Dồn dã / vất vả; chập chờn / cô đơn - chúng nối đuôi nhau, tiếp nối nhau, như sự bất tận, không ngừng, của dòng đời hối hả.
Vất vả sau một ngày làm việc dài, nên dáng đi mới chập chờn, xiêu xiêu vẹo vẹo, như muốn đổ, như muốn nghiêng. Các từ láy được Cung Trầm Tưởng sử dụng một cách điêu luyện trong khổ thơ này, như được dịp tung hoành, đặng mà giúp bạn đọc, nhanh chóng nhận ra được tài làm thơ của chủ nhân chúng.
Bốn câu trước hối hả, dập dồn, để câu thứ năm, đột ngột, thong dong, cất lên cao vút: Say sưa tìm về ấm cúng.
Thiệt là tha thiết làm sao.
Tìm về ấm cúng - đó không phải là nỗi khát khao thường trực của loài người chúng ta sao?
Tự chúng ta tách ra. Tự chúng ta chối bỏ. Tự chúng ta cô đơn. Để rồi, trong phút tử sinh, trong phút muộn màng nhứt của cuộc đời, chúng ta mới ngỡ ngàng kịp nhận ra, ước muốn chân thực nhứt của đời người, chính là tìm về nơi ấm cúng!
******
IV.4. Ăn Mày Xán Lạn Một Ngày Mai
Em có nghe bi ai
Tình ai ấp úng
Thương ai lạc loài
Ăn mày xán lạn một ngày mai
Nỗi bi ai lớn nhứt ở trong đời, chính là người mãi gạt người, người mãi dối người, người mãi cho người ăn bánh vẽ.
Những chót lưỡi đầu môi, không chỉ làm tình tan vỡ, mà những ngợi ca, phủ dụ, tô vẽ về một ngày mai, hay nói khác đi, tạo ra một viễn cảnh lộng lẫy, rồi xúi giục người ta ăn mày về một tương lai hư ảo, huyễn hoặc, không chỉ có thể khiến người chia ly người, mà thậm chí, còn khiến người chọn phương cách ly hương, để nhanh chóng rời xa những lọc lừa, man trá.
******
IV.5. Em Có Nghe Rạn Vỡ
Đêm nay say đất lở
Em có nghe rạn vỡ
Ra muôn mảnh ly rơi
Pha lê vạn chuỗi cười
Sau những dối trá trời long đất lở, là những rạn vỡ, những đổ vỡ, chẳng gì cứu vãn được, của lòng người.
Lòng người đổ nát.
Thành trì đổ nát, còn xây dựng lại được. Lòng người đổ nát, lấy gì chống, lấy gì dựng, lấy gì xây?
Như chiếc ly pha lê rơi xuống đất tan tành. Như tiếng cười khô không lệ, vỡ ra muôn ngàn mảnh!
******
IV.6. Dạ Thành Khoe Tráng Lệ, Phố Vãn Lòng Ngoại Ô
Bên nớ dạ thành khoe tráng lệ
Trơ trẽn giai nhân phô lõa thể
Bên ni phố vắng lòng ngoại ô
Bên thành đô thì khoe mình tráng lệ, đẹp đẽ, sang trọng, lộng lẫy. Khoe áo quần, dép giày, túi xách, xe cộ hàng hiệu và nhà cửa, ngọc ngà châu báu chưa đủ, họ phô phang luôn cả phần thịt da lồ lộ, phần mà khi loài người tiến hóa, thoát khỏi thời ăn lông ở lỗ, họ biết lấy lá, rồi dệt vải che thân, che phần riêng tư, che phần riêng biệt.
Bên ngoại ô thì phố vắng rồi, sau một ngày làm việc vất vả. Ngoại ô bùn lầy, ngoại ô không đèn, ngoại ô mái tranh, ngoại ô ho hen ốm yếu, ngoại ô lối ngõ không tên, ngoại ô tối ám.
Ngoại ô phố buồn!
******
IV.7. In Dài Ngõ Cụt Bóng Ai Giang Hồ
Em có nghe mơ hồ
Bước ai thao thức
Gõ nhịp hẹn hò
In dài ngõ cụt
Bóng ai giang hồ
Giờ này, em đã ngủ chưa hay còn trông ngóng? Trong chợp mắt mệt nhọc, em có mơ hồ nghe, bước anh đang thao thức ngoài kia?
Bước chân anh gõ nhịp hẹn hò, như hôm qua, hôm kia, mình từng hẹn hò nhau, nhưng lại rồi thất hẹn mãi, vì: một ngày công lao không cho biết đến hương đêm (Phố Buồn - Phạm Duy).
Nhịp hẹn hò hụt hẫng. Bước anh thành chênh vênh. Bóng anh in dài ngõ cụt.
Cụt như tương lai mình. Cụt như cuộc đời mình. Cụt như cuộc đời anh, rày đây mai đó, giang hồ lênh đênh, con thuyền không bến đỗ!
******
IV.8. Lạnh Đêm Mà Chẳng Lạnh Vuông Phòng
Bên nớ bên ni đêm lạnh cả
Lạnh đêm mà chẳng lạnh vuông phòng
Khổ thứ tám là hai câu bảy chữ. Những câu thơ tự do và có vần có điệu, chúng đứng chung trong cùng một bài thơ. Như những mới và cũ, những thực và mơ, những hèn kém và giàu sang, luôn hiện diện trong cuộc đời.
Nói khác đi, Cung Trầm Tưởng, bằng bài thơ Tương Phản, đã cho bạn đọc thấy được sự hiện hữu của những tương phản, chúng hằng hiện diện trong đời sống loài người, từ thoạt kỳ thủy, đến nay. Càng cố tiêu diệt, chỉ khiến nó càng trở nên quái dị, quái thai.
Có điều, dù bên nớ có giàu có đến đâu, và dù bên ni có nghèo khó đến đâu, thì khi mùa lạnh đến, đều chịu chung niềm lạnh lẽo trời ban.
Trong vài mét vuông chen chúc, chật chội, không cần lò sưởi, chỉ bằng lòng người, có khi còn ấm hơn cả lầu vàng, điện ngọc!
******
IV.9. Dù Chia Ly Đôi Phút, Đồng Mang Nhớ Đèo Mong
Em ơi bên trong
Dù chia ly đôi phút
Đồng mang nhớ đèo mong
Hai tâm hồn giam kín
Bốn mắt xanh bịn rịn
Chia ly nếu có, cũng chỉ là đôi phút. Đôi tâm hồn chúng ta, người mang nhớ, người đèo mong, chia đều, như nhau, chẳng khác.
Tình ta cũng vậy, chẳng khi nào chia ly. Trong mắt xanh em, trong mắt xanh anh, là cả trời hy vọng.
Dẫu rằng, cuộc đời khốn khó kia, chúng vẫn giam kín chúng ta trong vất vả ngược xuôi, trong bộn bề lao nhọc!
******
IV.10. Anh Ngồi Làm Thơ, Anh Ngồi Bấm Đốt Con Thơ Ra Đời
Anh ngồi làm thơ
Anh ngồi bấm đốt con thơ ra đời
Bên ngoài liếp ngõ sương rơi
Bên trong kín gió ấm ơi là tình!
Giờ thì chúng mình đang kề nhau. Anh vừa làm thơ, vừa bấm đốt ngón tay, tính xem, còn bao tháng, bao ngày nữa, con chúng mình ra đời.
Bên ngoài phên liếp, sương vẫn rơi. Tre nứa thôi nhưng vẫn che gió được cho mình.
Căn nhà kín gió.
Không gió lọt qua, nên ấm. Nên tình mình ấm.
Nên, ấm ơi là tình!
******
V. Cung Trầm Tưởng: Đối Với Tôi, Thi Ca Là Một Ngữ Sự
Tài hoa của Cung Trầm Tưởng là tài hoa của trí tuệ. Ông tài hoa trong lối biết tiết chế và giữ gìn, cả những câu thơ lẫn phẩm cách sống. Và ông đã lưu dấu tài hoa này vào cả hai dòng thơ trước cũng như sau mốc 1975 - lãng mạn trữ tình và hiện thực thuần lương, xót xa, đau thương, phản kháng.
Trả lời bà Thụy Khuê, Cung Trầm Tưởng nói, đối với tôi, thi ca là một ngữ sự. Không giải quyết được ngữ sự đó thì xé tất cả đi.
Ông không giải thích “ngữ sự” là gì. Nhưng theo tôi, ngữ là ngôn ngữ, sự là tự sự, là sự việc, là sự đời. Thi ca chính là dùng ngôn ngữ để giải quyết tất cả các sự, các vấn đề mà con người phải đối diện trong đời sống, và được thể hiện trong từng bài thơ cụ thể.
******
VI. Bên Trong Kín Gió Ấm Ơi Là Tình
Đâu đó, tôi không nhớ rõ, ông cũng đã từng trình bày suy nghĩ của mình về thơ, rằng, thơ ca là một rong chơi lãng mạn mà thâm trọng.
Rong chơi lãng mạn mà thâm trọng, mà gắn bó keo sơn, mà có trước có sau, mà có tình có nghĩa. Đấy chính là tấm tình chân, không chút gian dối, qua quýt, của ông, với thơ.
Cũng như, đấy cũng là tấm tình chân, không chút gian dối, qua quýt, của ông, với cuộc đời, và với người thương, dẫu đời, luôn có những Tương Phản, không thể phủ nhận, càng không thể chối bỏ:
Bên Trong Kín Gió Ấm Ơi Là Tình!
Sài Gòn 11.06.2025
Phạm Hiền Mây
Nguồn: Fb Phạm Hiền Mây
