
Tiểu sử tác giả
Nguyễn Nguyên Phượng tên khai sinh là Nguyễn Anh Dũng.
Sinh ngày 09-09-1951 tại Phú Nhuận, Sài Gòn.
Nguyên quán: Ấp An Hòa, xã An Ninh, tỉnh Tây Ninh.
Sinh ngày 09-09-1951 tại Phú Nhuận, Sài Gòn.
Nguyên quán: Ấp An Hòa, xã An Ninh, tỉnh Tây Ninh.
- Cử nhân giáo khoa Triết Học, Ɖại học Văn khoa Sài Gòn năm 1973.
- Cử nhân Ngữ văn, Ɖại học Sư phạm, thành phố HCM năm 1984.
- Dạy học Trường Trung học Gò Công tháng 11-1973 (tỉnh Gò Công sau năm 1975 là tỉnh Ɖồng Tháp). Nghỉ hưu năm 2010.
- Làm thơ, viết báo trước năm 1975 với bút danh Văn Nhược Ba. Có thơ đăng trên tạp chí Văn, báo Khởi Hành năm 1972.
- Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Ɖồng Nai.
- Tác giả của nhiều bài viết cho báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam, Tuần báo Văn nghệ Thành phố HCM, Tạp chí Sông Hương, Văn nghệ Ɖồng Nai, Văn nghệ Bình Dương, Văn nghệ Cà Mau và một số báo, tạp chí nước ngoài: Báo Người Việt Cali, Tạp chí Văn Học Mới, Ngôn Ngữ, Nguyệt san Vietlifestyles, Trang Văn học Nghệ thuật Cái Ɖình…
- Ɖoạt giải nhất Cuộc thi thơ năm chữ trên tập san Áo Trắng năm 2017 với bài thơ Ɖảo Xa Giữa Lòng Phố.
Tác phẩm đã xuất bản:
1- Tình Thơ Áo Trắng – Nxb Ɖồng Nai, 2013.
2- Còn Ɖó Buổi Ban Ɖầu – Nxb Hội Nhà văn, 2016.
***
Cơ duyên cho Tuyển thơ Lung Linh Lục Bát đến với tôi
1.
Cơ duyên đầu, xa vời từ ba mươi chín năm trước.
Năm 1997, khi từ Mỹ Tho chuyển về Xuân Lộc – Đồng Nai tôi vẫn đứng lớp giảng dạy, nhưng chuyện mới là tôi có xúc cảm sáng tác trở lại. Với bút danh Văn Nhược Ba trước năm 1975, tôi từng góp mặt trên Đặc san Thời Văn do nhà thơ Nguyễn Đăng Trình đảm trách trong những năm 1994 - 1996 với các bài Bùi Thi Sĩ và Mộng, Mười Năm.
Nhưng tôi thực sự trở lại với văn chương, thi ca khi cộng tác với Tập san Áo Trắng – nhà thơ Đoàn Thạch Biền chủ biên với bài thơ Tình Thơ Áo Trắng số Thu vàng năm 1996, với bút danh mới Nguyễn Nguyên Phượng. (Tôi có ghi lại trong tùy bút Cuộc Tình Ba Mươi Năm đăng trên Áo Trắng số cuối khi tập san này ngừng xuất bản). Bài thơ này sau đó được một số trang văn học nước ngoài đăng lại như Văn Học Cái Đình - Hòa Lan, Báo người Việt Cali. Dần sau đó nhiều thơ, văn của tôi được tập san chọn đăng, nhưng thú vị là một bài lục bát thất tình viết năm 1972 – Khi Trở Về Khóm 1 vẫn được anh Biền chọn lên bài gần 50 năm sau trong cuộc thi Lục Bát của Áo Trắng năm 2019. Nhưng khó quên nhất, từ gợi ý của nhà thơ Nguyễn Thanh Xuân, Trưởng Gia Đình Áo Trắng Quy Nhơn (đã mất) tôi tham gia và đoạt giải nhất Cuộc thi thơ 5 chữ trên tập san năm 2017 với bài thơ Đảo Xa Giữa Lòng Phố, phần thưởng là 5 triệu đồng.
Và từ đấy với bút danh Nguyễn Nguyên Phượng tôi cộng tác với nhiều báo và tạp chí trong và ngoài nước, đăng bài trên một số trang mạng xã hội. Cũng từ đây có một cơ duyên mới.
2.
Đó là khi tôi giở tờ lịch qua tháng 2/2026, nghĩa là Tết cổ truyền đang tới gần. Và tôi chính thức bước sang tuổi 75.
Bạn bè gặp trong những dịp giao lưu thi ca, văn học, hay nói: “Nhà thơ đã U80 viết đều tay trên mạng và điệu thơ còn mướt lắm. In thêm vài tập cho tụi tôi đọc”. Chắc nên vậy! Tôi nhanh chóng làm bìa cho Tuyển Thơ Lung Linh Lục Bát.
Được tin nhà thơ Võ Thị Như Mai – một Quản Trị Viên, dịch giả xinh đẹp, tài hoa luôn là con ong chăm chỉ, từng làm bà đỡ cho nhiều tập thơ chất lượng, bìa trang nhã của nhiều tác giả gắn bó với trang Nhịp Điệu Việt, đã chộp ngay tờ bìa tập thơ, nhận làm trọn các khâu cho tập thơ lục bát này. Lúc đầu, tôi chỉ định chọn 75 bài cho khớp với sinh nhật của tôi 75 tuổi. Nhưng gia tài thơ của tôi khá dày nên tôi tăng lên 100 bài, còn nói vui với nàng Mai, lên 100 bài để mong còn được thêm nhiều năm vui đùa với thi ca!
Nói là vậy, tôi lọc trong gần 140 bài chọn cho đúng số 100 bài để lên bản thảo không hề dễ dàng. Bởi có bài tôi viết thời còn là sinh viên, theo học ban Triết học - Đại Học Văn Khoa Sài Gòn năm 1969 - 1973 cho đến nay hơn 50 năm sáng tác thi ca. Tôi dồn sức sắp xếp những bài giới thiệu, cảm bình thơ để đưa vào tập thơ, như Tiến sĩ Bùi Quang Xuân - Tam Hiệp, Đồng Nai, nhà phê bình văn học Châu Thạch - Hải Châu, Đà Nẵng, nhà văn Dạ Yên (Oanh Kim), nhà thơ Ánh Trương - Sài Gòn, nhà văn Ngọc Cẩm - Cần Thơ… Tất cả đều vui vẻ khích lệ.
Còn về tựa tập thơ, khi làm thơ từ “lung linh” tôi hay dùng để chuyên chở tứ thơ, vậy sao không dùng làm tên cho tập thơ!
Giờ Lung Linh Lục Bát, tuyển thơ 100 bài gởi đến các bạn từng yêu những lời ca dao mẹ ru, mê thích Truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du thì hãy để những dòng, những bài lục bát trong Tuyển thơ này mang đến một khắc, phút giây lung linh lắng đọng, trong xúc cảm nồng nàn nơi tâm hồn, nghĩ suy của bạn.
Mỹ Tho, 20/03/2026
Nguyễn Nguyên Phượng
Nguyễn Nguyên Phượng
***
Một Ánh Lung Linh Đang Tự Làm Mới Mình
Nếu lục bát là một phần của tâm hồn Việt, thì Tuyển thơ lung linh lục bát của Nguyễn Nguyên Phượng đặt ra một câu hỏi thầm lặng nhưng không thể né tránh: Tâm hồn ấy hôm nay đang ngân lên bằng giọng nào?
Không còn là tiếng ru thuần nhất của đồng quê, không còn chỉ là những nhịp thương nhớ êm đềm, lục bát đã đi qua một hành trình dài để đến với hiện tại. Con người vừa gần gũi hơn lại vừa xa cách hơn chính mình. Trong sự chuyển động ấy, lục bát không thể đứng yên. Và thơ của Nguyễn Nguyên Phượng, ở một nghĩa nào đó, chính là nỗ lực giữ cho thể thơ này tiếp tục lung linh trong một đời sống đã đổi khác.
Điều đáng nói là: lục bát trước hết sống bằng câu thơ. Mỗi câu lục, câu bát vừa là một đơn vị âm thanh vừa là một khoảnh khắc thở của ngôn ngữ. Câu thơ có thể chưa trọn nghĩa, nhưng phải trọn nhịp; có thể chưa khéplại, nhưng phải mở ra. Chính ở điểm dừng của mỗi câu có âm vang lắng xuống, thơ bắt đầu hiện diện.
Trong lục bát, hai câu không tách rời mà nương tựa vào nhau. Câu lục da diết, câu bát ngân dài. Một bên khơi gợi, một bên mở rộng. Sự phụ thuộc ấy tạo nên chiều sâu cho lời thơ. Người viết lục bát, vì thế mà viết từng câu và khoảng cách giữa các câu, viết cái chưa nói hết, cái còn dư vang.
Đọc Nguyễn Nguyên Phượng, có thể nhận ra một ý thức khá rõ ràng về điều này. Thơ không vội khép lại. Nhiều câu dường như dư, dư chữ, dư nhịp, dư cả ý nhưng chính cái dư ấy lại mở ra một không gian cho người đọc bước vào. Đó là một lựa chọn: để thơ không đóng kín, để cảm xúc có chỗ lan ra ngoài câu chữ.
“Chưa xa nghe đã mịt mờ
Em như giọt mộng cuối bờ đại dương
Em như giọt mộng cuối bờ đại dương
Lay phay mưa nắng vô thường
Biết đâu cỏ lá một phương diệu tình
Biết đâu cỏ lá một phương diệu tình
Chốn về thơm ánh hương quỳnh
Cầu vồng khát nhớ biến hình sau mưa!”
Cầu vồng khát nhớ biến hình sau mưa!”
(Thơ Tình Viết Dưới Mưa)
Ở những câu thơ như thế, ta nhận ra một khuynh hướng đáng chú ý: cảm xúc lan ra trong một trường liên tưởng.“Giọt mộng, cuối bờ đại dương, cầu vồng, hương quỳnh”, những hình ảnh vượt qua tả thực, những điểm sáng trong một không gian cảm giác. Lục bát ở đây gợi và làm mờ đi để mở rộng. Đặc biệt, cách kết hợp giữa những yếu tố mong manh, “giọt mộng”, “lay phay” với những không gian rộng lớn như “đại dương”, “cầu vồng” tạo nên một độ căng thẩm mỹ thú vị. Câu thơ vì thế vừa nhẹ, vừa sâu; vừa như thoảng qua, vừa để lại dư vang. Đó chính là một biểu hiện của lục bát khi được đẩy ra khỏi quỹ đạo quen thuộc của nó với nhịp điệu và một trường cảm xúc nhiều tầng.
Đây cũng là đặc điểm đáng chú ý trong lục bát của Nguyễn Nguyên Phượng là sự dịch chuyển của giọng điệu. Nếu lục bát truyền thống thường nghiêng về một giọng kể đều đặn, êm ái, thì ở đây, giọng thơ không ngừng thay đổi: khi thủ thỉ, khi bâng quơ, khi chợt sắc lại như một nhận thức bất ngờ. Chính sự chuyển giọng ấy làm cho bài thơ mở ra nhiều lớp rung động khác nhau. Lục bát vì thế vừa là lời ru vừa trở thành một cách nghĩ và một cách tự vấn.
“Loang chiều bước đẫm tâm tư
Mùa rơi phía nắng tạ từ thu xa
Mùa rơi phía nắng tạ từ thu xa
Áo xanh từ độ khép tà
Trái tim ứa lệ. Ta bà biết tên
Trái tim ứa lệ. Ta bà biết tên
Trăng tình một thuở soi nghiêng
Rỗng rang nỗi nhớ... bạc miền sương bay
Rỗng rang nỗi nhớ... bạc miền sương bay
Nổi nênh sợi bạc hao gầy
Hóa ra hạt bụi cũng đầy chiêm bao
Hóa ra hạt bụi cũng đầy chiêm bao
Tiêu đời vào cõi bể dâu
Dòng trôi nhân thế một màu mang mang
Dòng trôi nhân thế một màu mang mang
Nghe xưa vọng tím địa đàng
Không hoàng hôn sóng. Ngổn ngang kinh chiều…”
Không hoàng hôn sóng. Ngổn ngang kinh chiều…”
(Kinh Chiều)
Một dòng cảm xúc nghiêng về suy tư, một không gian suy tưởng về thời gian và thân phận. Các hình ảnh như “mùa rơi, áo xanh, trăng tình, bể dâu hay hạt bụi” nối tiếp nhau vừa cổ điển vừa mơ hồ tạo nên cảm giác trôi dạt, bảng lảng. Nhịp thơ chậm, nhiều chỗ như khựng lại giữa chừng, khiến cảm xúc lắng xuống thành những lớp âm thanh. Điều đáng chú ý là sự pha trộn giữa chất trữ tình và ý vị triết lý, khiến mỗi câu thơ gợi nghĩ và mở ra một cảm thức về đời sống vừa mong manh vừa vô tận.
Bên cạnh đó, có thể thấy một nỗ lực đưa vào lục bát những chi tiết của đời sống hôm nay. Thơ bắt đầu hướng đến những không gian khác: đô thị, những va chạm thường nhật, những cảm giác rời rạc mà con người hiện đại thường trải qua. Khi những chất liệu ấy đi vào lục bát, chúng tạo ra một độ “lệch” cần thiết, một sự không hoàn toàn ăn khớp với nhịp điệu truyền thống và chính sự lệch ấy làm nên cái mới.
“Lời thương mắt đếm thật thà
Trái tim không tuổi đuối tà áo bay
Trái tim không tuổi đuối tà áo bay
Em về cúc nở vàng vai
Chết từ vô lượng áo ai thôi vàng
Chết từ vô lượng áo ai thôi vàng
Sổ lồng chim sáo không sang
Đáu đau rét ngọt thả tràn vào đông!”
Đáu đau rét ngọt thả tràn vào đông!”
(Thơ Tình Tháng Chạp)
Vẻ đẹp mong manh và ám ảnh. Cảm xúc được đẩy đến độ tinh vi của sự tan chảy. “Mắt đếm lời thương, tà áo bay, cúc nở vàng vai”, một thế giới vừa gần gũi vừa siêu thực, tình cảm được đo bằng độ sâu của rung động. Nhịp thơ chậm và mềm nhưng ẩn chứa những điểm gãy tinh tế, khiến nỗi buồn thấm dần như cái rét ngọt cuối mùa. Cảm thức về mất mát hiện lên như một sự phai đi của sắc vàng, của hơi ấm, để lại một khoảng trống đầy trăn trở trong lòng người đọc.
Tuy nhiên, điều làm nên sức bền của những câu thơ là ở khả năng giữ được một nhịp điệu nội tại, một thứ nhạc nghe bằng tai và cảm bằng trí nhớ. Những câu thơ đọc xong tưởng như rất giản dị, nhưng lại ở lại rất lâu, bởi chúng gây thương tạo nhớ. Lục bát khi đạt đến độ chín cứ ngân vang.
“Ba mươi năm. Cuộc tình mơ
Hai ta chung một chuyến đò nhân gian
Hai ta chung một chuyến đò nhân gian
Trái tim thuở đập mơ màng
Hẹn nhau cuối đất. Đa mang với đời!
Hẹn nhau cuối đất. Đa mang với đời!
Chan chiều mặn đắng hạt vui
Chênh chao sông thẳm nối lời gừng cay
Chênh chao sông thẳm nối lời gừng cay
Qua đông đếm sợi hao gầy
Qua thu bờ tưởng vẫn đầy chiêm bao
Qua thu bờ tưởng vẫn đầy chiêm bao
Thơ tôi thả tận phương nào
Miền em neo đậu phía sau đá mòn
Miền em neo đậu phía sau đá mòn
Ba mươi năm. Cuộc tình son
Xôn xao trái mộng, vuông tròn cõi xuân…”
Xôn xao trái mộng, vuông tròn cõi xuân…”
(Đò Tình Ba Mươi Năm)
Dòng hồi tưởng thấm đẫm thời gian. Tình yêu được nhìn lại trong chiều dài ba mươi năm với tất cả những ngọt đắng đã lắng lại. Chuyến đò nhân gian mở ra một cảm thức định mệnh, còn những chi tiết như “sông thẳm, gừng cay, đá mòn” lại làm dày thêm trải nghiệm đời sống. Nhịp điệu lục bát ở đây vừa đều đặn vừa chênh chao, như chính hành trình của tình cảm qua năm tháng. Điều đáng chú ý là sự hòa quyện giữa cái riêng và cái chung, giữa một cuộc tình cụ thể và một cảm thức rộng hơn về kiếp người, khiến bài thơ thể hiện sự kiên trì cũng như những biến đổi của yêu thương.
Lục bát vốn là thể thơ cho phép nói lại, nói dài, nói chậm. Nhưng nói dài không có nghĩa là lặp lại vô ích. Sự lặp, nếu có, phải tạo nên nhịp điệu, phải làm dày thêm cảm xúc. Ở những câu thơ hay, ta thấy chữ như được đặt đúng vào chỗ của nó, không thể thay, không thể bớt. Và đôi khi, chính một chữ rất nhỏ lại giữ toàn bộ linh hồn câu thơ.
Một trong những thử thách lớn nhất của lục bát hôm nay là làm mới mà không đánh mất mình. Làm mới không chỉ là đảo câu, ngắt dòng, hay thay đổi hình thức bên ngoài. Những cách ấy có thể tạo ra cảm giác khác lạ, nhưng chưa chắc đã tạo ra giá trị. Cái mới đích thực phải đến từ bên trong: từ cách nhìn, cách cảm, cách nghĩ về đời sống.
Trong Lung Linh Lục Bát, điều đáng ghi nhận là sự tìm kiếm ấy không dừng lại ở ngôn từ. Những câu thơ rất hay và cảm động bởi những chi tiết nhỏ, những cảm xúc rất riêng. Lục bát ở đây đối diện với hiện tại, vừa dịu dàng, đằm thắm lại vừa chênh chao, đứt đoạn.
Đoạn thơ mang nhịp điệu tự do nhưng vẫn giữ được linh hồn trữ tình của lục bát, tạo nên một cảm giác vừa gần vừa xa, vừa cụ thể vừa mơ hồ. Em hiện lên như một trung tâm cảm xúc, vừa là đối tượng của tình yêu vừa là điểm hội tụ của thời gian và không gian. Những câu thơ ngắn dài đan xen làm nhịp điệu trở nên đứt nối có chủ ý, như nhịp tim khi xúc cảm dâng lên. Ngôn ngữ giàu tính gợi, nhiều khoảng lặng, khiến bài thơ mở ra một trạng thái, tình yêu được cảm nhận như một sự hiện hữu toàn vẹn, vừa dịu dàng vừa ám ảnh.
Thực ra, lục bát chưa bao giờ là một thể thơ hoàn tất. Nó luôn dang dở, luôn mở. Mỗi bài thơ như một đoạn giữa của một câu chuyện dài hơn, câu chuyện của tiếng Việt, của đời sống, của con người Việt qua các thời đại. Vì thế, viết lục bát hôm nay không lặp lại quá khứ mà tiếp tục một cuộc đối thoại. Nguyễn Nguyên Phượng bước vào cuộc đối thoại ấy, với một giọng điệu riêng không quá ồn ào trong cách tân, nhưng cũng không bằng lòng với những gì đã có. Có lúc thơ nghiêng về sự mộc mạc, có lúc lại có những chỗ phá nhịp, lệch giọng như thể người viết đang thử xem lục bát còn có thể đi xa đến đâu. Điều quan trọng hơn cả, có lẽ, là thơ vẫn giữ được một sự thành thực. Trong một thời đại mà ngôn ngữ dễ trở nên sáo rỗng, sự thành thực ấy trở thành một giá trị hiếm. Lục bát, với tất cả những ràng buộc của nó, buộc người viết phải thật, thật với cảm xúc, thật với ngôn ngữ.
“Lung linh” gợi một ánh sáng không cố định, không chói lòa mà lay động, không đứng yên mà biến đổi. Có lẽ đó cũng là cách lục bát tồn tại hôm nay: một chuyển động liên tục giữa truyền thống và hiện đại. Và nếu phải nói một điều sau cùng, thì có lẽ là thế này: lục bát sẽ còn sống, chừng nào vẫn còn những câu thơ khiến ta muốn dừng lại, đọc chậm hơn một chút, và lắng nghe tiếng Việt vang lên, vừa quen thuộc, vừa mới mẻ, trong chính lòng mình.
Võ Thị Như Mai
(Thạc sĩ, nhà thơ Trưởng Ban Quản Trị Nhịp Điệu Việt)
(Thạc sĩ, nhà thơ Trưởng Ban Quản Trị Nhịp Điệu Việt)
Nguồn: https://www.caidinh.com/






























