
Nhà Văn Cung Tích Biền đã qua đời vào 12:25 pm ngày 9 tháng 9 năm 2026 tại Orange County, California, Hoa Kỳ. Hương Thọ 91 tuổi. Tang lễ được tổ chức tại Peek Funeral Home, thành phố Wetsmnister, vào Thứ Hai, 28 tháng 9 năm 2026.
Theo Cáo Phó gia đình: 9-10 giờ sáng: Nghi thức nhập quan, lễ phát tang và cầu siêu (dành cho gia đình và thân quyến)
10 đến 14 giờ: Lễ Tưởng niệm và thăm viếng.
14 đến 15 giờ: Lễ di quan
Trước năm 1975 nhà văn Cung Tích Biền đã nổi tiếng với các tác phẩm Ai Tỉnh Ai Điên (Trí Dũng, 1969). Nỗi Buồn Thắp Sáng (Trí Dũng, 1969). Nàng Tình Rỗng (Trí Dũng, 1970). Trên Ngọn Lửa (Hoàng Đông Phương, 1971). Cõi Ngoài (Kỷ Nguyên, 1970). Bạch Hóa (Sóng, 1974) và các tuyển tập với các nhà văn…
Sau năm 1975 anh ngưng sáng tác hơn mười năm. Năm 1987, tôi từ Đà Lạt về Sài Gòn gặp anh và được biết đang chuẩn bị cho vài tác phẩm. Năm 1990, tôi đi Mỹ HO 4. Và cũng thời điểm đó anh ấn hành các tác phẩm Chim Cánh Cụt (Long An, 1990). Một Thời Lưu Lạc (Long An, 1990). Tình Yêu Mùa Ảo Ảnh (Đồng Nai, 1990). Thằng Bắt Quỷ (Tân Thư, 1993)… Tuy nhiên ở hải ngoại, với tôi, chưa thấy bài viết nào về nhà van9 Cung Tích Biền.
Tôi viết: Cung Tích Biền, Giữa Hai Lằn Đạn. Có lẽ đây là bài viết đầu tiên ở Hoa Kỳ về anh vào tháng 9 năm 2007, đã phổ biến trên các website, cách nay gần hai thập niên. Bài viết nầy đăng vào quyển Nhân Văn & Tình Sử của tôi ấn hành năm 2015 (từ trang 349 đến 370).
Nay trích những đoạn liên quan đến cuộc đời Cung Tích Biền trước năm 1975
*
Lời Ngỏ: Năm 1987, lần đầu tiên từ Đà Lạt về Sài Gòn. Sau 12 năm thành phố đổi tên, “Tang Thương Ngẫu Lục” (Tên cuốn sách của Phạm Đình hổ và Nguyễn Án), kẻ đi, người bị kẹt lại! Khi hỏi thăm bạn bè về anh Cung Tích Biền, có lời dị nghị... Khi gặp Phan Nhự Thức, anh cho biết trong hoàn cảnh bi đát, Cung Tích Biền là người bạn tốt giúp đỡ cho nhau rất tận tình, không những bản thân anh mà với các người bạn khác. Khi gặp anh Cung Tích Biền tại kiosque Nhị Hoàng, số 28 (?) ở đường Nguyễn Huệ, bán đồ mỹ nghệ. (Ghi chú thêm: Cuối năm 1979, Họa Sĩ Hồ Thành Đức xin được kiosque của Hội Văn Nghệ giao cho vợ chồng Cung Tích Biền buôn bán làm ăn nuôi con).
Anh là người trầm lặng, ít tâm sự nhưng qua vài cuộc chuyện trò, tôi cảm nhận được tâm trạng và trăn trở của anh... Khi hỏi về sách báo, anh nói chỉ đọc vài tờ tiếng Anh thôi (Vì vậy khi ở Hoa Kỳ, có vài nguồn tin nói anh viết cho báo nầy, tuyển tập kia, tôi bán tín bán nghi vì khi từ bỏ chữ nghĩa thì viết lách làm gì. Sau nầy qua những cuộc trả lời phỏng vấn, anh cho biết họ lấy bài đăng tải, in sách nhưng chưa bao giờ hỏi ý kiến).
Trước khi viết, tôi gặp vài người bạn đồng hương, dọ hỏi và cho biết, coi chừng bị “xuyên tạc và chụp mũ”, tôi nói chẳng bận tâm điều đó, quan trọng ở đối tượng nếu xoay chiều làm lệch lạc cảm nhận của mình đã viết trước đó. Có lẽ, đây là bài viết đầu tiên ở hải ngoại về Cung Tích Biền, bài viết được đăng trên vài tờ báo và nhiều trang web ở hải ngoại.
Với tôi, khi cầm bút nhận xét mà có đầu óc thiên kiến, đố kỵ... để tung ra trước dư luận như ném hòn đá xuống mặt hồ, sau những gợn sóng sẽ bị chìm nghỉm. Phải có tấm lòng nhân bản, khách quan, hợp đạo lý trước bóng tối và ánh sáng. Tự bản thân, ai mà không có giây phút sai lầm nhưng đi theo vết mòn đó hay tự hối để vươn lên.
Nhân dịp hội ngộ Liên Trường Quảng Nam - Đà Nẵng vào đầu tháng 9 năm 2007 tại Little Saigon, gặp lại bạn bè, nói chuyện thơ văn quê nhà, có đề cập đến nhà văn Cung Tích Biền… Cuộc phỏng vấn của Lý Đợi được phổ biến trên trang web Talawas vào tháng 2 năm 2007, những điều Cung Tích Biền bộc bạch nói lên những điều uất khuất và rõ ràng, giải tỏa được phần nào những điều ngộ nhận trước kia và có sự cảm thông hoàn cảnh trớ trêu của anh. Tôi nói, trong giai đoạn đổi cả chế độ, đổi đời, hỗn mang... nhiều người cùng cảnh ngộ nghiệt ngã và cũng có trường hợp như nhà văn “cùng tất biến” nhưng cần nhận chân đâu là sự thật. Trong giới văn nghệ và báo chí, có bạn có thù, kẻ ưa người ghét, những gì nghe qua trong bàn trà, cuộc rượu, có vẻ mù mờ “tam sao thất bổn” không thể vin vào để viết, phê phán. Đôi khi có những lời bàn tán mà người trong cuộc không biết gì cả, khi biết được thì chưng hửng và không biết phát xuất từ đâu! Dư luận cũng là con dao hai lưỡi và xác tín phải trải qua thời gian. Cuộc sống phức tạp và cạm bẫy, có khi bất chấp và có khi phải đối đầu với dư luận!...”
… “Giữa thập niên 50, nhân dịp Lễ Vu Lan, anh Cung Tích Biền và chị tôi cùng các huynh trưởng trong Gia Đình Phật Tử tổ chức sinh hoạt văn nghệ. Hình ảnh vũ khúc Lên Chùa Dâng Hoa do anh sáng tác rất tuyệt vời, phần đầu với ca khúc Lên Chùa Dâng Hoa, phiên khúc anh lồng vào dòng nhạc mở đầu ca khúc bán cổ điển Sérénata của Enrico Toselli. Anh đàn banjo rất hay, tôi mê vũ khúc và tiếng đàn; từ đó, chị tôi khuyến khích cố gắng tập luyện sẽ trở thành Trần Ngọc Thao thứ hai. Anh và tôi, cùng họ và chữ lót, cùng quê ngoại của tôi, vì vậy sau nầy, nhiều người hỏi tôi có họ hàng gì với Cung Tích Biền. Anh là huynh trưởng, bạn của người chị thứ sáu tôi, không họ hàng gì cả, và, tôi được biết anh trong sinh hoạt Gia Đình Phật Tử từ đó. (quê anh và quê ngoại tôi cách khoảng 20km đường chim bay)
Quen thân với Phan Nhự Thức khi ở ban biên tập SVSQ Khóa 23 và 24 cho tờ nguyệt san Thủ Đức, sau nầy có nhiều kỷ niệm gắn bó với nha..., Phan Nhự Thức cho biết rất thích hai cây bút của quê tôi là Vũ Hạnh và Cung Tích Biền vừa được nổi tiếng, nhưng tiếc rằng Vũ Hạnh đi theo con đường khuynh tả…
Sau 12 năm mới gặp Phan Nhự Thức, kể cho tôi nghe về trường hợp Cung Tích Biền. Trong hoàn cảnh chiến tranh, nhiều gia đình lâm vào tình cảnh phân ly, bên nầy và bên kia chiến tuyến. Mỗi gia đình có nỗi đau riêng, khó giải bày…”. (tôi hỏi Phan Nhự Thức, sau năm 1975, Cung Tích Biền có hại ai không?. Phan Nhự Thức cho biết Cung Tích Biền rất tốt với bạn bè, anh có người thân làm hãng nước đá, chính bản thân Phan Nhự Thức và vài bạn văn buổi tối tạm tá túc qua đêm nơi nầy).
“… Nhà văn Cung Tích Biền, tên thật Trần Ngọc Thao, sinh năm 1936, cùng tuổi với người chị thứ sáu của tôi tại Thăng Bình, Quảng Nam, trong một gia đình có truyền thống chữ nghĩa thơ phú. Năm 12 tuổi đã theo các anh các chị đi diễn kịch, đàn ca ở miền quê trong tỉnh…
Theo lời anh, năm 18 tuổi, bị bắt ra nhà lao Hà Lam, quận Thăng Bình tra khảo. Rất may, vì mới tép riu, chỉ là ở trong vùng kháng chiến, có thân nhân tập kết, chưa phải thành phần Cộng Sản nguy hiểm nên sau đó được thả ra. (Ghi chú thêm: Quận Thăng Bình trong thời kỳ Việt Minh, thanh niên nam nữ - trong đó có hai người chị của tôi - hầu như tham gia trong sinh hoạt văn nghệ, ca nhạc nhưng sau năm 1954 chỉ có anh bị bắt giam. Trong khi đó nhiều văn nghệ sỹ tham gia trong “kháng chiến” từ Bắc, Trung, Nam lại được sử dụng).
Học trung học ở trường Diên Hồng Hội An, đã tập tễnh làm thơ viết truyện ngắn. Năm 1958, được một giải thưởng truyện ngắn toàn tỉnh Quảng Nam. Lúc học tại Huế, được một giải thơ của trường Quốc Học. Anh có nhiều bút hiệu khác nhau thuở đó như Chương Dương, Việt Điểu, Uyên Linh.
Theo học Đại Học Văn Khoa ở Huế, đầu thập niên 60, một thời gian, phụ trách một chương trình thơ cho Đài Phát Thanh Huế. Chương trình mang tên Con Tàu Thi Ca. Ngoài các chương trình thông thường, thực hiện ba chương trình liền nhau những nhà thơ tiền chiến đang sống dưới chế độ Hà Nội. Đài cúp ngay cái đám miệng còn hôi sữa. Thế là chết yểu.
Năm 1963, dạy học Anh Văn và Việt Văn tại Điện Bàn Quảng Nam, bị động viên vào Khóa 17, Trường Bộ Binh Thủ Đức. Sau khi tốt nghiệp Khóa 10 Trường Sĩ Quan Hành Chánh Tài Chánh. Ra trường, bị chính quyền Nguyễn Khánh có văn bản cưỡng bách cư trú tại miền Tây, không được về Trung, thời gian bốn năm. Năm 1967, thân mẫu qua đời, không về chôn cất. Mỗi tuần, phải trình diện An Ninh Quân Đội Vùng 4 chiến thuật một lần vào ngày Chủ Nhật. Sĩ quan Hành Chánh Tài Chánh Tiểu Đoàn 211 Pháo Binh, thuộc Sư đoàn 21 BB tại Bạc Liêu. Tiểu Đoàn 251 Pháo Binh, thuộc Sư Đoàn 25 BB tại Tây Ninh. Thiết Đoàn 10 Kỵ Binh tại Đức Hòa…
Theo anh “Miền Nam Cộng Hòa có cái hay, nghi ngờ một sĩ quan động viên có liên hệ với Cộng Sản, tham gia phong trào sinh viên đấu tranh chống Ngô Đình Diệm, từng sống trong vùng kháng chiến chín năm, có anh em ruột thịt tập kết ra Bắc, có liên hệ với bạn bè khá đông, rất thân quen, hiện đã ra khu Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, vậy mà cứ cho lên lon, thăng chức bình thường như mọi sĩ quan khác” (CTB).
Năm 1970, giảng viên trường SQ Hành Chánh Tài Chánh. Năm 1972, kết hôn với cô Hoàng Thị Kim (Mai), sinh viên năm thứ ba, ban Triết, đại học Văn Khoa Sài Gòn. Năm 1973 giải ngũ với cấp bậc Đại Úy. Giáo sư thỉnh giảng đại học cộng đồng Quảng Đà ở Đà Nẵng.
Tháng 11 năm 1965, sáng tác truyện ngắn Ngoại Ô, Dĩ An & Linh Hồn Tôi khi phục vụ trong đơn vị Pháo Binh thuộc Sư đoàn 21 Bộ Binh... Tháng 3 năm 1966 truyện đăng trên tuần báo Nghệ Thuật, lần đầu tiên, ký bút hiệu Cung Tích Biền. Bút hiệu nầy giữ mãi tới ngày hôm nay…”
“… Trong Hồi Ức 40 Năm Cầm Bút của Nguyễn Thụy Long có đề cập đến thời điểm nầy. Tôi email hỏi thăm Nguyễn Thụy Long và anh cho biết: “Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi và Thế Phong, Cung Tích Biền xuống tận Cà Mau làm cu li, thời gian không dài lắm, vài ba tháng. Tổ hợp Việt Nam Kỹ Thuật bị giải thể vỉ chủ nhiệm Nguyễn Văn Ngơi, người quen của nữ văn sĩ Lệ Hằng bị bắt vì tổ chức vượt biên. Tổ hợp giải thể, ba chúng tôi trở về Sài Gòn, sau đó tôi bị bắt và đi tù đến năm 1980 mới trở về. Khi ra khỏi tù tôi gặp Cung Tích Biền, tình cảm vẫn như xưa…”
“… Khi Phan Như Thức (Nguyễn Văn Minh) qua đời tháng 11 năm 1995 vì bệnh ung thư, vợ con mang chôn ở Bình Hưng Hòa. Bữa đó Cung Tích Biền đọc ‘điếu văn’ khóc Thức như một tiếng nấc nghẹn ngào của phận ‘kẻ sĩ’ chịu nhiều oan trái…”
“… Về gia đình, người thứ nhất: ông Trần Ngọc Biền, bộ đội, chết năm 1969 tại Nghĩa Đàn, Nghệ An. Người thứ hai: ông Trần Ngọc Tấn, Thiếu Tá Quận Trưởng Tịnh Sơn kiêm Quân Trấn Trưởng Quang Ngãi. Sau tháng 4 năm 1975, đi ‘học tập và chết trong trại tù cải tạo. Gia đình chỉ được thông báo cái chết từ năm 1978 mà không biết nơi chôn cất. Cũng đã ở tuổi cổ lai hy, nếu được quy kết mộ hai ông anh ruột cũng là một thỏa lòng”. - (Little Saigon, Sept 11-2007)
*
Nhà văn Cung Tích Biền sang Mỹ định cư vào năm 2016 do vợ con bảo lãnh. Anh có trí nhớ rất tốt, trong gần mười năm qua, anh tiếp tục sáng tác và cho phổ biến các tác phẩm trước năm 1975 và ở Mỹ.
Tháng 7 năm 2024 anh viết bài: Vương Trùng Dương: Một Cây Bút Đa Diện. Dó là kỷ niệm hai anh em có dio5 gặp lâu trò chuyện, anh nhắc lại kỷ niệm xưa: “Một lần, vào cuối thập niên 50s, thế kỷ trước, theo lời mời, tôi lại có dịp đến Chợ Được, để tập cho các em gái, thiếu nữ Phật Tử Chợ Được những màn vũ múa. Tôi đánh đàn và trực tiếp chỉ dẫn cho các em. Trong số này có hai người chị của Vương Trùng Dương. Bấy giờ Dương đang là một thiếu niên khá ngộ nghĩnh 14 tuổi. Dương rất mê tiếng đàn măng-đô-lin của tôi. Sinh hoạt Phật Tử nơi đây rất đông. Một ngôi chùa to đẹp, vườn chùa rộng đầy bóng mát, là do chính thân phụ Vương Trùng Dương đứng ra gầy dựng, và bảo tồn đã lâu năm. Hai tuần ở Chợ Được là những ngày vui, những giờ hạnh phúc của chúng tôi”.
Cuộc đời anh gắn liền với con số 6: sinh năm 1936, sang Mỹ năm 2016 và qua đời năm 2026.
Vĩnh biệt anh, vĩnh biệt Huynh Trưởng trong Gia Đình Phật Tử nơi cố hương.
Little Saigon, September 2026
Vương Trùng Dương
Nguồn: Fb Trang Văn Chương Miền Nam - Vương Trùng Dương






























