
[Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 209-270]
* [Ghi chú: – Trong những phân đoạn của chương II “Các giai đoạn sinh hoạt và phát triển” của Quyển Thượng (Tổng quan), các tác giả và tác phẩm mà chúng tôi giới thiệu chỉ là một phần, vì sẽ còn được phân tích, nhận định trong các chương khác cùng Quyển (như Chương III: Nội dung, thể loại và hiện tượng) hoặc được nhận định một cách đầy đủ hơn trong các Quyển Trung và Hạ (160 tác giả).
– Về biên khảo, tiểu luận và phê bình sẽ được tập trung ghi nhận trong Chương III: Nội dung, thể loại và hiện tượng.
2015-2025. Giai Đoạn “Không Gian Mạng” Toàn Cầu
Từ khi các tạp chí văn học nối tiếp nhau đình bản, đã có những tiếng nói thất vọng, lo âu cho văn học hải ngoại, nhưng bất ngờ được các trang mạng toàn cầu tiếp tay cho sứ mạng; nhưng rồi các trang mạng cũng lão hoá hoặc vì lý do khác, đã ngưng sinh hoạt và cập nhật: trang Talawas từ 3-11-2010, Sáng Tạo của nhà thơ Bắc Phong từ 3-2021, sau đó là các trang Bạn Văn Nghệ của Trần Yên Hoà, Vuông Chiếu của nhà thơ Luân Hoán, và Trang Phạm Cao Hoàng,… (16). Mặt khác, một số nhà văn thơ định cư sau này cũng đã góp phần nào sống động và hiện hữu cho sinh hoạt văn học hải ngoại – cũng như trong nước có thêm ấn phẩm góp mặt của các vị từng sinh hoạt ở ngoài nước.
Đây cũng là một giai đoạn khó khăn cho những ai muốn theo dõi các sinh hoạt và ấn phẩm. Ngoài các sinh hoạt theo nhóm, địa phương, hoặc đoàn thể, xuất xứ, nay thêm các ấn phẩm xuất phát toàn cầu hoặc địa lý không còn cùng quan trọng.
Thời đại mới phương tiện xuất bản cũng cập nhật với hệ thống bán sách giấy và số hoá qua một số công ty quốc tế như amazon.com, lulu.com, barnes&noble,… Các nhà Nhân Ảnh, Người Việt, Văn Học Mới, Sống, … và một số cá nhân và “tác giả tự xuất bản” (dĩ nhiên có người tên tuổi vẫn còn… mờ mịt trước và sau khi in sách) trong những năm sau này đã cho ra mắt độc giả khá nhiều tựa sách, nhưng phương tiện phát hành dân chủ tự do này lại làm nảy sinh vấn đề nội dung và giá trị văn chương thật sự của các ấn phẩm. Trên các trang bán hàng như amazon.com, lulu.com, và ngay cả walmart.com,…, độc giả người Việt ở bất cứ đâu (và người ở các nước muốn nghiên cứu, học tập) có thể mua sách báo của các nhà văn Việt hải ngoại và trong nước nói chung. Người Việt Books, Lotus Media, Nhân Ảnh, Văn Học Mới, Sống,… ở California là những nhà xuất bản khá năng động của thời xuất bản book-on-demand “hậu hiện đại” này! Ngoài ra, với cách xuất bản này thì biên giới trong-ngoài của văn học Việt Nam đã dần biến dạng và có thể hết còn biên giới dù con người (“chống đến cùng”, “canh gác”) và chế độ (“đỉnh cao”, “ưu việt”) có không muốn đi nữa! Từ đầu năm 2011 trước đó, nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng khi muốn trả lời vấn nạn “Một năm qua sách báo ở hải ngoại in ấn ra sao?”, đã ghi nhận “số đầu sách in đã giảm, số tác giả tự in tác phẩm của mình có tăng lên đôi chút [một phần là do người viết “tự động” in, và một phần là do một số nhà xuất bản đã ngưng hoạt động] …. Có thể nói từ một thập niên nay, sự bùng nổ của internet đã và đang thay đổi bộ mặt của báo giấy và sách giấy…” (17).
*
Về văn, Khánh Trường in lại 2 tập Truyện Ngắn Khánh Trường (Nhân Ảnh, 2016), tạp bút Chuyện Bao Đồng 2018 và các tiểu thuyết Tịch Dương, Dấu Khói Tàn Tro, Bãi Sậy Chân Cầu đều do nhà Mở Nguồn xuất bản trong cùng năm 2020. Ông tiếp tục sáng tác cho đến khi mất tại Quận Cam CA ngày 19-13-2024: Có Kẻ Điền Cuồng Khóc (2020), Xuyên Giấc Chiêm Bao (2021), Đừng Theo Dông Bão (2021), Nắng Qua Đèo (2021), Năm Tháng Buồn Thiu (2022), Thơ Khánh Trường (2024) và Cùng Nhau Đất Trời (“du ký tiểu thuyết”; 2024).
Võ Kỳ Điền in tuyển tập Câu Hỏi Kiếp Người (Nhân Ảnh, 2018), gồm 30 truyện ngắn và tạp ghi, và tái bản Pulau Bidong, Miền Đất Lạ cả 2 do nhà Nhân Ảnh ở San Jose CA năm 2018. Trong các tạp văn, du ký, ông đã đưa kiến thức, hiểu biết về văn học, văn hóa và lịch sử Á Đông vào, khiến người đọc ngẩn ngơ thích thú như được cùng ngắm hoa, dược thảo hoặc được dẫn đường đi du lịch với hành lý sách vở thánh hiền, văn thi nhân ngày xưa.
Song Thao thêm Dấu Chân Lang Bạt (Nhân Ảnh, 2016) tuyển bài viết về những chuyến du hành nước ngoài trước 1975 và những nước khác sau này.
Trang Châu (Lê Văn Châu, 28-3-1938, Huế – ) sau Thơ Trang Châu (1989), Về Biển Đông (1995) và Dì Thu (2000), có thêm tập truyện Người Ăn Trưa Trong Xe (2013) và tuyển tập 12 Truyện Ngắn 12 Bài Thơ (2017).
Phan Tấn Hải thời này đã xuất bản tập truyện Thiếu Nữ Trong Ngôi Nhà Bệnh (Ananda Viet Foundation, 2017; tb: T. Vấn & Bạn Hữu, 2022) và Viết Từ Phương Xa (Tủ sách T. Vấn & Bạn Hữu, 2022).
Hoài Ziang Duy thêm tự truyện Còn Không Chốn Quay Về (Thân Hữu, 2017) và hai thi tập trước ngày lìa đời.
Cung Tích Biền định cư trễ ở Hoa Kỳ tháng 10-2016, đã xuất bản tập “tân truyện”Xứ Động Vật (Nhân Ảnh, 2018) và tập truyện ngắn Mùa Xuân Cô Mơ Bay (Thao Thao, 2019) và vẫn tiếp tục sáng tác đều đặn...
Hoàng Chính Tập truyện Và Không Ngày Nào Tôi Thấy Hình Tôi (2018) Lời Nguyền Ở Thế Giới Bên Kia (truyện dài; Nhân Ảnh, 2019).
Hồ Đình Nghiêm Kẻ Âm Lịch (Lotus Media, 2017) và Ngoại Vực (‘truyện và chuyện’; Lotus Media, 2018).
Tràm Cà Mau có Nhóm Lửa Yêu Thương (18 truyện, 2016).
Phan Việt Thủy chủ nhiệm tạp chí văn học Việt ở Úc và soạn giả nhiều bộ sách giáo khoa về tiếng Việt, đã xuất bản tập truyện Biển Lửa (Nhân Ảnh, 2016). Ông cho biết: “Tập truyện ngắn nầy là tổng hợp những truyện đã được đăng tải trên các báo ở Úc, Mỹ và Gia‐Nã Đại và cộng thêm ba truyện mới. Do đề nghị của các thân hữu, tuyển tập truyện nầy được xuất bản bởi nội dung những truyện nầy thể hiện những hiện tượng xã hội khổ đau, bi thảm ở miền Nam Việt Nam sau năm 1975. Mặc dù không phải là những trang ghi chép lịch sử xã hội, những nhân vật, truyện đều là hư cấu. Nhưng hy vọng những truyện nầy cũng nói lên một trong những muôn vàn hoàn cảnh xã hội bi thương trong một giai đoạn lịch sử mà dân tộc Việt Nam đã phải hứng chịu…” (Lời Giới Thiệu).
Truyện Chỉ Một Mình Anh ghi lại cảnh thăm nuôi ở các trại “cải tạo”: “Tiếng nói lao xao. Người ngồi kẻ đứng. Những tấm bàn bằng vĩ sắt kê thành ba lối, đầy ắp, nào xách, giỏ, thức ăn, quần áo… Chồng vợ cha con, anh em mặt nhìn mặt trong nỗi vui ngờ ngợ. Nhìn nhau như cố gắng nhận ra thân xác, thịt da của nhau còn đó. Mỗi khuôn mặt tái nhợt, xanh sao mang nỗi âu lo riêng lẽ nặng nề. Mặt nhìn nhau như trao nhau những than thở ngậm ngùi. Tuy vậy xem ra những ưu tư của đám đông cũng có mẫu số chung: số phận ra thế nào trong những ngày sắp tới. Mỗi người không tìm thấy một chút hy vọng ở tương lai. Mong mỏi sớm được trở về là mong mỏi chung của mọi người đang ngồi đó. Tiếng cười ở đây thật hiếm. Một nhếch môi mỉm cười của vợ gặp chồng, chồng gặp vợ, mẹ gặp con chợt tan biến trong giây lát để nhường lại cho những câu chuyện tính toán gia đình, âu lo số phận. Thời gian thăm nuôi chỉ được một giờ. Ai cũng muốn chạy đua với thời gian. Nói những điều muốn nói với nhau, nhưng rồi cũng chẳng nói được gì. Khi gặp nhau nỗi vui mừng đã choán hết.
Mấy tên quản giáo cứ lảng vảng đi qua đi lại quanh nhà thăm nuôi, trông bộ muốn dò dẫm, nghe ngóng, mắt lắm la lắm lét đảo qua đảo lại từ bàn này sang bàn khác. Mọi người nhìn chúng với đầy căm hận chất ngất. Hờn căm không nói ra được. Nếu không nghĩ đến cái chết và đọa đầy thân xác, mọi người đã phanh thây xé xác những con người rừng rú đó đã làm khổ đời chung. Hơi nóng hừng hực, mái tôn thấp lé té, người nào cũng mồ hôi nhễ nhại. Mặc dù ngồi chen chúc, ai cũng lo trao đổi chuyện riêng. Thoáng thấy một tên quản giáo đi tới thì phải nói lớn, hỏi chuyện bâng quơ. Quả thật oái oăm. Lệnh của trại “khi gặp thân nhân không được khóc, phải ăn nói to lớn chững chạc”. Hoàng nghĩ thầm thứ luật lệ gì mà kỳ lạ. Cấm xúc động. Đau khổ cũng phải gắng cười. Hoàng được ra nhà tiếp khách sớm là cũng nhờ tình nguyện làm công tác tiếp đón để mong đón được vợ lên thăm. Mong đợi từ sáng đến giờ, Hoàng chẳng thấy bóng dáng vợ đâu cả. Thời gian tiếp thân nhân đến hai giờ chiều là hết. Hoàng bồn chồn lo âu, hay là ở nhà vợ mình có chuyện gì không lên được. Vợ chồng cưới nhau chưa đầy ba tháng. 30 tháng 4 đến một cách thảng thốt. Tình nghĩa vợ chồng đậm đà, tràn đầy bỗng dưng chia xa. Sự thay đổi chế độ quá nhanh, mỗi người ngẩn ngơ ngơ ngẩn, tưởng chừng như trời sập. .. Bỗng Hoàng thoáng thấy vợ, người như nhẹ hẳn lên, muốn bay ra đón vợ. Ước chừng như muốn ôm choàng lấy vợ hôn cho đỡ nhớ thương. Trước mặt là mấy tên quản giáo, là một lô các “bản tự khai”, “kiểm điểm”. Trước khi đến ngày thăm nuôi tất cả đều phải “lên lớp” để học một bài gọi là “văn minh lịch sự”. Nào là chồng gặp vợ không được ôm nhau, làm như vậy là kém văn minh lịch sự, gặp người nhà mừng, thì phải cười… Bao nhiêu thứ cấm… Không lẽ gặp nhau như gỗ đá hay lên sân khấu đóng kịch. Tình cảm vợ chồng theo kiểu Cộng sản cũng phải đóng kịch để “đạt mục đích yêu cầu”…” (tr. 73-74, 76). Hoàng cho vợ biết đừng thăm nuôi nữa vì anh đã tính chuyện trốn khỏi trại, phải liều mình may ra sống chứ ớ trại “cải tạo” sẽ có ngày phải chết.
Phan Tấn Uẩn (1942 – ) định cư tại Hoa Kỳ năm 2005, tiếp tục sinh hoạt văn nghệ, xuất bản và đã in tuyển tập truyện ngắn Đêm Mù Mộ Địa, Trời Cao Đất Rộng (Ký, 2 tập), truyện dài Dật Sự (tức Chuyện Viễn Mơ;TGXB tức NXB Kim Cương, 2022 sau khi in lần đầu và đăng trên vanchuongviet năm 2021 với tựa Chuyện Viễn Mơ Thời Chiến) và Hoài Cảm Hay Những Bài Ca Đánh Thức Quá Khứ (Kim Cương, 2020).
Dật Sự truyện dài 29 chương, trong đó các chương 19-23 bàn về Văn Học. Tác giả giới thiệu: “Chuyện Viễn Mơ Thời Chiến gồm nhiều dật sự. Dật Sự (軼事) là việc xảy ra không còn tìm biết được nữa. Đó là những câu chuyện xoay quanh Đại Học New Hardy xuất hiện như một huyền thoại tại Nam Thường. Tôi là một sinh viên được New Hardy cấp học bổng, đào tạo thành ký giả qua khoa báo chí của trường nầy và được viện trưởng Trần Văn, sau nầy là Ricard chỉ định làm ký giả thường trực. Trong Dật Sự, tôi đã viết những câu chuyện về các nhân vật thành lập như viện trưởng Ricard Trần Văn, cố vấn Thibault, trưởng đối ngoại Emily Như Hiền, con tàu viễn dương Hardy , ngôi làng trung lập độc đáo và tạp chí Văn Cầm trực thuộc New Hardy…
CVMTC là một tác phẩm pha trộn đủ các thể loại, từ hồi ký, tùy bút, ký sự, phóng sự, hư cấu đến các ghi chép chuyên ngành, tùy theo tính chất của từng câu chuyện. Nhưng dù câu chuyện thuộc thể loại nào, tôi cũng vận dụng tối đa yếu tố văn học để câu chuyện phù hợp với báo Văn Cầm. Hơn nữa theo trào lưu hiện đại một tác phẩm văn chương có thể là một pha trộn đủ thể loại, người đọc cần được biết đến để không phải ngạc nhiên. Chúng tôi vẫn nghĩ rằng, một cuốn sách được người đọc chú ý chỉ khi nào nó làm bật ra những câu hỏi”.
Nhân vật và không gian chuyện Việt Nam và quốc tế, người sống người đã chết, thực hữu và thật giả bất tưởng (“dật sự”), chuyện người khác và bản thân (và sự nghiệp viết) của tác giả, nhấn mạnh đến “văn học so sánh”, v.v. Đoạn cuối chương 29 “Người vong quốc”: “Tôi phải một phen ngỡ ngàng khi cậu bé trở lại chất vấn về lòng yêu nước của cha mẹ nó. Hoàn cảnh đưa gia đình chúng tôi sống , học tập và làm việc trong một tiểu bang Đông Bắc gồm phần lớn dân da trắng. Thằng bé được giáo dục ngay từ lúc chập chững biết đi. Cử chỉ, nói năng , phản ứng của nó không khác trẻ em bản xứ. Chúng tôi chủ trương để tương lai đời sống của nó phát triển tự nhiên theo giáo dục xã hội nuôi lớn nó.
“Dad cũng giống như Nolan.” Tôi trả lời cậu bé.
“Nhưng Dad đâu có sinh ra trên đất Mỹ ?”
“Nước Mỹ do những người di cư từ nước khác vào đây lập nên. Người nào muốn trở thành công dân Mỹ, người đó chắc chắn phải có lòng yêu nước Mỹ. Nếu không, họ đã không bỏ đất nước cũ ra đi…” Nói với con như vậy, nhưng chúng tôi làm sao quên được quá khứ? Nỗi đau nầy có nguyên cớ sâu xa, nhưng không do chúng tôi gây ra… “ (tr. 488).
Quán Về Khuya là truyện ngắn như là bản thử cho Dật Sử đến sau:“… Mấy tháng trước đây chúng tôi đã gặp một cặp chồng Mỹ vợ Việt tại nhà thờ Saint Patrick trong buổi lễ tang của một bà đồng hương già trên 95 tuổi. Bà Th. trước 75 làm sở Mỹ có chồng lính Mỹ là người sớm nhất đến thành phố chúng tôi đang ở. Những người Việt đến sau như tôi thường đến tá túc một vài tháng đầu tiên tại nhà bà. Lễ tang của bà tập họp gần như đầy đủ người Việt đã từng quen biết bà trong đó có cặp chồng Mỹ vợ Việt nầy đến từ một thành phố khác. Bà vợ Việt gặp đồng hương, được dịp nói chuyện cởi mở. Qua chuyện trò tôi biết, trước 75 bà làm việc trong cơ quan DAO, ông chồng trước khi gặp bà làm trong MACV sau nầy cũng làm trong DAO và gặp bà. Trước khi ra về, ông bà Mike không quên ghi địa chỉ để chúng tôi có dịp gặp lại. Ông Mike, người chồng, đã tặng tôi cuốn truyện viễn tưởng (fiction book) nói về một lão phù thủy…
Điều đặc biệt tôi phải hỏi rõ họ, tại sao lại cho chúng tôi địa chỉ là một ngôi quán và giờ gặp, là một sáng sớm 5 giờ. Bà vợ cười xởi lởi, nói rằng ban ngày ông bà sống bất định, già về hưu, vui đâu chúc đó không có chỗ dừng nhất định. Nhưng ông Mike lại có một thói quen không bỏ được là cứ năm giờ sáng mỗi ngày, ông đều có mặt tại quán cà phê trong dãy phố cổ. Họ nói, nếu có dịp nào thuận tiện gặp lại, điện thoại báo cho ông bà biết…
Ba giờ khuya. Xe lặng lẽ chạy trong đêm tối, bên dải phân cách sáng lên giữa mặt đường trải nhựa lúc chiếc xe phóng chùm sáng lên dải cellule photo. Một vài xe phía sau phóng nhanh, vượt qua, trong thoáng chốc chỉ còn một chấm sáng nhỏ di động phía trước. Chúng tôi đưa tiễn con gái về tiểu bang khác. .. Tựa lưng vào ghế, tôi lật xem tiếp cuốn sách viễn tưởng do ông Mike trao tặng. Chỉ mấy trang đầu cuốn sách cũng đủ kích thích trí óc tôi. Tôi bị cuốn hút, đọc rất nhanh quên hẳn đất trời im lặng bên ngoài… Cuốn sách kể về một lão phù thủy bay qua những hiện tượng bí ẩn có thật xảy ra mà khoa học chưa giải thích được…”.
Ngọc Cường tiếp tục với Hệ Lụy (Người Việt, 2016), Bâng Khuâng (2018), Ba Chị Em (Người Việt Books, 2016) gồm 4 truyện ngắn và 5 tiểu luận. Truyện ngắn tự truyện Ba Chị Em về nỗi ám ảnh mất người mẹ sớm của nhân vật chính, và sự tìm kiếm hình ảnh của bà qua hai người chị đã thay thế bà mẹ nuôi em, những tâm trạng khác nhau của cuộc đời. Tiểu Luận: Viết về văn chương, và nghệ thuật, tác giả muốn nêu chú ý đến ý nghĩa đích thực của nghệ thuật là duy nhất: mua vui, giải trí (như cụ Nguyễn Du: “Mua vui cũng được một vào trống canh”). Ngọc Cường cũng mạo muội đưa quan điểm “tác giả đã chết” (của Rolland Barthes) hầu cống hiến độc giả…
Trương Văn Hùng (ký Huy Văn rồi Huy Văn Trương; 1948, Đà Lạt – ) viết cho các tạp chí Văn Học, Văn từ 1995, và đã xuất bản tập truyện Dinh Độc Lập Tiếng Súng Cuối Cùng (TGXB, 2016; tb 2017). Nhà văn Trúc Chi giới thiệu tập truyện: “… đã là “truyện” tất phải có phần hư cấu, nhưng mà kinh nghiệm sống của tác giả, vốn là một trong hàng trăm nghìn quân nhân Việt Nam Cộng Hoà đã từng phải nuốt hận trong các trại “cải tạo”, rạt rào trôi qua những hàng chữ giản dị, không sáo, không làm dáng, do đó cốt chuyện trong mỗi truyện đậm nét thuyết phục. (…) Tất cả những điều mà tôi tạm gọi là nghịch cảnh trong tập đều chở nặng hậu quả không gián tiếp thì trực tiếp của chiến tranh, những hậu quả mà tôi nghĩ rằng mọi người trong chúng ta không ít thì nhiều cũng đã và đang gánh chịu. Do đó, có thể nói rằng chuyện trong những trang sau đây rất gần người đọc…”
Truyện dài pha tự truyện Chiến Tranh Bên Cạnh, Tình Yêu tiếp theo năm 2023, gồm 4 tập, tiểu tựa từ tập 2: Dâu bể trùng phùng – Nhà tù hình chữ S – Boat People và Ngọn hải đăng Pulau Bidong.
Lê Lạc Giao sau 2 tập truyện trước đó, đã xuất bản hai truyện dài Mùa Địa Ngục, Dòng Đời (2024), Có Một Thời Nhân Chứng (2018) và tập truyện Nụ Cười Buồn Mùa Hè (Văn Học Press, 2020) – 18 truyện, ghi lại những chuyện đời thường, rất thật và đa dạng của những nhân vật đã trải qua cuộc chiến Việt Nam. 18 “âm bản” của truyền thống đã thân thành định mệnh đời thường, là mười tám nỗ lực của từng cá nhân để tìm lại chính mình, tìm lại ý nghĩa của đời sống. Tất cả chỉ nhắm tới MỘT mục đích duy nhất, tức là Tự Do.
– “Anh nhìn góc phố tối đi vì một vầng mây đang trôi qua trên cao. Cuộc sống của anh cũng tối sáng như thế. Nỗi cô đơn không phút giây rời anh, cả trong lúc anh nghĩ rằng mình đang vui vẻ nhất. Xúc cảm trong tâm hồn như dòng sông xa nguồn không bao giờ trở lại, thì nỗi cô đơn kia dựng lên bao chướng ngại cản ngăn mọi ước muốn cần thiết cho một tương lai! (Quê Nhà của Kẻ Tha Hương).
Về Có Một Thời Nhân Chứng, Tô Đăng Khoa cho biết:“Bốn mươi ba năm chiêm nghiệm, ba tác phẩm, một chủ đề canh cánh, Chiến Tranh và Tình Yêu, Lê Lạc Giao với đức tánh cẩn trọng và thẩm sát của một nhân chứng cho chiến tranh và tình yêu, cùng với những chiêm nghiệm thậm thâm của Ông, chắc chắn sẽ đưa độc giả nhìn lại cuộc chiến tranh Việt Nam từ một góc nhìn rất khác, từ trước tới nay. Đó là góc nhìn độc lập, không chống đối, không hệ lụy của một Nhân Chứng sống sót sau cuộc chiến tàn khốc. Khi bị ném vào bối cảnh của chiến tranh, thì sự chọn lựa quyết liệt nhất chính là sự lựa chọn làm nhân chứng hay nạn nhân của lịch sử. Chính sự lựa chọn một cách dứt khoát này sẽ mang đến cho chúng ta một thái độ sống thích hợp trong chiến tranh. Vì sao? – Vì chỉ có làm nhân chứng của chiến tranh thì mới thấu hiểu được chiến tranh và có cơ hội vượt qua được những hệ lụy lâu dài của chiến tranh mang lại. Về mặt tác dụng và thái độ sống của từng con người, sự lựa chọn đó mang ý nghĩa rất to lớn: Đó chính là sự lựa chọn giữa Tự Do và Nô Lệ!”.
Vũ Đình Kh. Có Những Đêm Trăng Vỡ (Văn Học Press, 2021), tập truyện ngắn hiện thực phản ảnh tâm tư trăn trở thời đại của người Việt sau cuộc nội chiến và đặc biệt tâm tình cho quê nhà Diên Khánh.
Đỗ Quyên từ thơ và biên luận bước sang viết “tiểu thuyết thời sự” Trung Việt-Việt Trung (Người Việt Books, 2016) và “tiểu thuyết châm biếm” Đẻ Sách (Người Việt Books, 2018).
Thận Nhiên xuất bản Những Ghi Chép Ở Tầng Thứ 14 (Văn Học Press, 2019).
Trần Trung Đạo thêm Ra Đi Để Lại Nụ Cười, “tuyển tập tâm bút, đoản văn, bút ký đăng trên facebook” (Boston: TGXB, 2024).
Nguyễn Trung Tây nhà văn linh mục, xuất bản Quán Nước Đầu Làng (Văn Học Press; Sống, 2023).
Trần Văn hoặc Trần Văn Ngà (hiệu Anh Phương; 1935, Châu Đốc – ) từng cùng Tô Ngọc làm tờ Tiếng Vang (1999-2006)ở vùng Sacramento CA. Sau Chuyện Đồng Quê (2 tập; Tiếng Vang, 1999; 2014), hồi ký Công Tử Nhà Quê Bà Bài (2020), là truyện dài Chuyện Tình Trên Đỉnh Núi (2022-2023) gồm 3 tập: Tiếng Gọi Tình Yêu – Đường Tình Khúc Khuỷu – Tình Yêu Muôn Thuở: “dựa vào một câu chuyện tình bất hủ có thật trên đỉnh núi Sam – Châu Đốc, từ trước năm 1975. Dù câu chuyện tình có thật, tác giả thêm thắt, dặm mắm dặm muối thành một bộ trường thiên tiểu thuyết có nhiều hư cấu tưởng tượng. Một đôi tình nhân với nhiều thử thách éo le đầy kịch tính, tuổi tác lại chênh lệch khá cao và địa vị xã hội là chủ nhân ông giàu sụ với người ở đợ, giúp việc nghèo kiết xác...”.
Tác giả “bộc bạch” về 2 tập Chuyện Đồng Quê: “Câu chuyện đồng quê trong tập sách này được viết lại qua trí nhớ, bối cảnh từ sau năm 1940, những năm thanh bình êm ả (1940 -1945) (…) Trong Chuyện Đồng Quê, tác giả gói ghém tất cả tâm tình thân thương của quê hương, một câu chuyện dài bất tận nhớ đời. Với ngòi bút hạn chế, sự hiểu biết, tầm nhìn hạn hẹp, tác giả xin cố gắng ghi lại thật nhiều chuyện đồng quê để nói lên tâm sự sâu kín của một người Việt Nam luôn hướng về quê hương, cội nguồn dân tộc”.
Phạm Tín An Ninh (1943, Khánh Hoà – ) tiếp tục xuất bản: Ở Cuối Hai Con Đường, Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân, Vẫn Còn Vương Tơ, và Sau Cuộc Bể Dâu. Truyện và bút ký ghi lại hồi tưởng về quê hương, quê nhà Nha Trang, con người và những nỗi đau và bi kịch. Những truyện gây tiếng vang: Cậu bé đánh giày người Nghĩa Lộ, Ở Cuối Hai Con Đường, Người bán sách trên bãi biển Nha Trang,…
Võ Phú, xuất hiện đều đặn với các tác phẩm Nước Mỹ Những Mảnh Ghép Rời (Nhân Ảnh, 2020); Xóm Chài (Westminster CA: Lotus Media, 2022; tb Love, 2025); Tuyển Tập Truyện Ngắn (chung với Tiểu Lục Thần Phong; Herico VA: Love, 2025; lulu.com); Nước Mỹ: Công viên tiểu bang Virginia (Nhân Ảnh, 2024) – bút ký “ghi lại những chuyến đi”; Những Người Bạn Trong Lớp 9AB (tập truyện; Tủ sách Bút Việt Văn đoàn, 2024); Góc Nhỏ Cuộc Đời (tùy bút; Love, 2025), …
Anh làm thơ với bút hiệu Y Thy, sau thi tuyển Rằng Ta Đang Yêu (Suối Nguồn, 2001) là Ngày Tháng Có Nhau (Văn Học Mới, 2018) và gần đây là Lạc Vào Cõi Thu (Nhân Ảnh, 2021).
Tiểu Lục Thần Phong (Nguyễn Thanh Hiền; 1971, Bình Định -) năm 2000 định cư tại Atlanta, GA, mới xuất hiện thường xuyên trên các diễn đàn và xuất bản liên tục những năm gần đây: NXB Ananda Viet Foundation đã in hai tập truyện Chỉ Có Con Đường Đó Mà Thôi và Hoa Đào Năm Ấy (2019) đều do NXB Ananda. NXB Nhân Ảnh đã in các tập thơ Giữa Con Đường Với Vết Trầm (2018), Mộng Trùng Hoa (2018),Em Vẫn Là Nỗi Đau Đời (2019),Hạc Cầm (2019), Mộ Hoa (2021), và tập truyện ngắn Nặng Tợ Nghìn Cân (Nhân Ảnh, 2024). Tủ Sách T. Vấn và Bạn Hữu in tập truyện Chuyện Cũ Phù Dung Trấn (2024), và các tập trường ca Có Ngờ Gì Không (2024), Việt Sử Ca (2024) và Hạc Hoa Thành (2024),…
Trích Lời Tựa của Chuyện Cũ Phù Dung: “… Một thời văn chương, thơ phú, sách vở… giờ lùi vào dĩ vãng. Mặc cho chữ nghĩa văn chương như cảnh chợ chiều, những con người còn yêu chữ nghĩa vẫn ngày đêm âm thầm tiếp tục rị mọ viết ra, dĩ nhiên là trong số ấy cũng có người danh tiếng, tên tuổi bay cao và cũng có người lẹt đẹt như lá cỏ bờ mương. Văn chương có bác học hàn lâm thì cũng có bình dân đại chúng. Chuyện Cũ Phù Dung Trấn này chẳng có chi để gọi là văn chương, chỉ là mớ chữ nghĩa quê mùa, bình dân, giản dị. Nó chỉ là những câu chuyện đời thường được kể lại với một giọng thật thà, thiếu trau chuốt, không bóng bẩy và dĩ nhiên chẳng có bút pháp chi. Bút giả chỉ là người kể chuyện mua vui, vì là chuyện đời thường nên nó chẳng lấp lánh đẹp hay sang trọng như hàn lâm hay cổ tích. Bảo là mua vui nhưng cũng có những câu chuyện cười ra nước mắt, những mẩu chuyện buồn của con người và xứ sở. Bút giả như tấm gương phản chiếu hiện thực đang sờ sờ ra trước mắt. Những câu chuyện liên quan đến số phận nước non và con người. Xứ sở thế nào thì con người thế ấy: Chuyện tình, chuyện đời, chuyện đạo, chuyện thế thái nhân tình, chuyện quốc gia thế sự… Người kể chuyện cứ thật thà kể mà chẳng chút làm màu, đôi khi nó đơn điệu và trần trụi như nó vốn thế!” (tr. 2-3).
Cũng Lời Tựa, cho tập “trường thi” Hạc Hoa Thành: “… Nước Việt trải qua thời gian mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước. Cha ông đã đổ ra bao nhiêu xương máu và công sức để có được nước Việt như hôm nay. “ (…). Lẽ nào nước Việt đã đến giai đoạn thoái trào? lẽ nào Bắc thuộc lần thứ ba? Từ những nỗi đau và sự bất bình ấy mà Hạc Hoa Thành được viết ra. Hạc Hoa Thành vừa là khái niệm hư huyễn nhưng cũng rất thực tế ấy chính là nước Việt này đây. Hạc Hoa Thành được viết bằng cả tình yêu quê hương non nước, giống nòi. Viết với sự tự hào về truyền thống lịch sử của cha ông. Hạc Hoa Thành có thể xem như tiếp nối lời thương lời nhớ, lời tình tự của đất nước con người Việt Nam. Hạc Hoa Thành viết cho những con người có tâm hồn đồng điệu, dù đó là ai, dù sống ở bất cứ nơi nào. Hễ còn dòng máu yêu nước thương nòi thì sẽ cảm nhận được chút tình gởi gắm qua những câu thơ lục bát này”.

Các nhà văn nữ
Điệp Mỹ Linh thời này xuất bản Chỉ Còn Là Kỷ Niệm (12 truyện ngắn; Nhân Ảnh, 2024); bút ký Biển Vẫn Đợi Chờ (Nhân Ảnh, 2024) và tập tạp ghi Người Việt “Mới” (Nhân Ảnh, 2024).
Tiểu Thu tiếp tục với tập truyện ngắn Dòng Sông Tuổi Thơ (Nhân Ảnh, 2018).
Hải Phong cùng định cư tại tỉnh bang Québec, sau những Vùng Yêu Đương là các tập truyện ngắn Chị Yêu, Ngập Ngừng Gió Nhắn Cùng Cây, Sau Cơn Mưa, Màu Lá (2015). Bà còn xuất bản các tập truyện dịch Quán Bên Đường (Corner store), Lá Thu (Feuilles d’automne), Tuyết Hoa (Snow and the secret fan), Đêm (Night), …
Hoàng Quân tên thật Hoàng Thị Ngọc Thúy, gốc Huế, định cư ớ Đức từ 1982, xuất hiện trên văn đàn hải ngoại với Bông Hoa Trên Phím (TGXB,2015); Nhớ Tiếng À Ơi (Nhân Ảnh, 2016); Đứng Ngẩn Trông Vời (Nhân Ảnh, 2018); Long Lanh Màu Trời (Nhân Ảnh, 2020); Sợi Vắn, Sợi Dài (Nhân Ảnh, 2021),… Hoàng Quân là nhà văn của kỷ niệm và những nét đẹp, lạ, cũng như hiện thực của đời sống, ờ quê nhà và xứ người hoặc trên đường du lịch.
Trích Giọng Huế của Mạ từ trang t-van/net ngày 15-2-2021: “… Ở Quảng Ngãi, ở Sài Gòn, đi đâu chăng nữa, lời ăn tiếng nói của Mạ luôn xếp đặt mọi việc ổn thỏa ba bên, bốn bề. Mạ vào Sài Gòn đặt sách báo cho tiệm sách. Mạ đi mua trang thiết bị cho quán cà phê. Mạ đến những công sở ở Quảng Ngãi để tham dự đấu thầu cung cấp bút chỉ văn phòng. Mùa hè đỏ lửa, Ba không thể rời nhiệm sở ở miền Trung, Mạ dẫn bầy con nhỏ vào Sài Gòn chạy loạn. Thời gian này, một cảnh hai quê, lòng Mạ lo lắng ngổn ngang trăm mối. Tuy vậy, Mạ vẫn sắp xếp dắt bầy con nhỏ đi đó đây khắp Sài Gòn. Mạ muốn đưa mấy đứa con đi Chợ Lớn. Mạ hỏi đường, người Sài Gòn ngẩn người, không biết “Chợ Lợn” ở đâu. Nhưng rồi, Mạ vẫn tìm đến được những địa điểm như ý muốn. Người bạn của Mạ ở gần chợ Cầu Muối. Bác diễn tả, nhà bác có lát gạch bông đàng trước. Bình thường, với thông tin như vậy, có lẽ ai cũng phải lắc đầu, từ bỏ ý định tìm kiếm. Mạ lặn lội hỏi quanh và cuối cùng Mạ cũng đến thăm được người bạn.
Mạ giải quyết êm đẹp những “bất đồng ý kiến” giữa khách của quán cà phê nhà và các cô hàng cà phê. Một người khách quen kể: “Thiệt kỳ lạ, mỗi lần anh hồi tưởng về quê nhà Quảng Ngãi, là anh nhớ tới Mạ các em. Một người phụ nữ Huế, có khuôn mặt đẹp, cương nghị, dáng điệu khoan thai, trầm tĩnh, cư xử dịu dàng, nói năng nhỏ nhẹ. Các cô trong nhà chỉ cần học Mạ các em là đủ, không cần học thêm bất cứ ai”. (…)
Mạ dặn dò, con gái đừng cằn nhằn với chồng, con trai đừng gắt gỏng với vợ. Khi thấy con phải đối mặt với nguy cơ rạn vỡ trong gia đình nhỏ, Mạ ân cần khuyên nhủ, “Con nì, quyết định chi, con nhớ nghĩ đến con của con nghe”. Mạ thấy đứa con này cuối tuần ở nhà, Mạ nhỏ nhẹ: “Sao con không đi thăm bồ!” Mạ thấy đứa con kia hơi tròn trịa, Mạ nghiêm giọng: “Ăn uống kỹ kỹ lại nghe con.”
Như vậy đó, giọng Huế của Mạ đã ru, đã nuôi, đã dưỡng bầy con từ thuở còn thơ cho đến khi con đầu có hai thứ tóc. Giọng Huế của Mạ tận tụy chăm sóc Ba trong những thăng trầm của cuộc đời. Giọng Huế của Mạ đã bươn chải ở nhiều nơi, để chồng con đầy đủ miếng ăn, cái mặc. Giọng Huế của Mạ đã chạm vào trái tim của người chưa quen biết để họ trở thành ân nhân của gia đình. Giọng Huế của Mạ đã là bản đồ tìm đường, kiếm lối. Giọng Huế của Mạ đã mang đến những bạn bè, những láng giềng tử tế. Giọng Huế của Mạ đã an ủi chia sẻ với những người cùng cảnh ngộ…” (https://t-van.net/hoang-quan-giong-hue-cua-ma/).
Long Lanh Màu Trời được Nguyễn Hiền giới thiệu trong Tựa: “… không phải là một tiếp nối của ba tuyển tập đã ra mắt, mà là một chọn lọc đặc biệt. Những đoản văn trong tuyển tập này vẽ lên những nét chính trong cuộc đời của tác giả. Từ những ngày thơ mộng của thời học sinh tại một tỉnh nằm chính giữa Việt Nam. Đến những ngày vì hoàn cảnh đã phải lìa bỏ quê, trôi nổi trong cuộc đổi đời. Rồi cuộc sống trên một đất nước hoàn toàn xa lạ, lạ từ khí hậu, con người cho chí ngôn ngữ. Và xuyên qua đó là những phấn đấu, những vui buồn, những phút ấm lòng pha trộn hãnh diện khi đã tạo đựng được chút ít thành quả nhỏ nhoi. Hoàng Quân, qua LLMT, cho người đọc cơ hội lướt qua những trải nghiệm vui buồn của một người Việt lưu vong, vài sinh hoạt sách báo hiếm hoi đặc sắc của người Việt hải ngoại tại Đức mà ít người biết tới, và cảm được những gì tác giả muốn nhắn gửi…” (tr. 9-10).
Hoàng Nga tiếp tục với Kẻ Không Chiến Tuyến (Nhân Ảnh, 2017) gồm 18 truyện viết về chiến tranh, tập truyện Cõi Lạ (Nhân Ảnh, 2023) và truyện dài Rừng Núi Bạt Ngàn (Nhân Ảnh, 2020).
Nguyễn Phúc Anh Lan với Sống Với Grace (Nhân Ảnh, 2023), chia sẻ kinh nghiệm / hành trình của tác giả khi áp dụng các nguyên tắc thay đổi cuộc đời mang tên Grace: “”Tôi nhận ra rằng mỗi ngày được sống trên hành tinh này là một ân sủng phi thường mà tôi được Vũ trụ ban tặng. Chỉ thông qua việc phục vụ người khác và giúp đỡ người khác, tôi mới có thể xứng đáng trọn vẹn với đặc ân đó. Tôi mãi mãi biết ơn về món quà cuộc sống mà tôi nhận được mỗi ngày trên Trái đất này. Tôi thực tâm hy vọng rằng tôi có thể chia sẻ lòng biết ơn lớn lao này với mỗi độc giả để giúp bạn giải phóng sức mạnh trong tâm hồn và đạt được sự cao cả của chính mình. Tất cả bắt đầu bằng việc xác định những chủ tâm tích cực, sau đó chú ý đến nhiều cơ hội xuất hiện để đạt được tiến bộ đều đặn mỗi ngày”.
Lê Thị Thấm Vân tiếp tục tiểu thuyết nữ quyền với Thời Hậu Chiến (Mở Nguồn, 2019) gồm 3 “tiểu thuyết” Thất Lạc, Bóng Người Trên Thiên Đường và Mùa Trứng Rụng.
Lê Chiều Giang với ấn phẩm đầu tay Không Đứng Mãi Trong Tranh (Nhân Ảnh, 2021) là một tác phẩm đặc biệt đặt để bên cạnh hàng ngàn đơn vị văn hoá nghệ thuật của văn học hải ngoại. 160 trang văn và thơ cùng mang tính ký sự, về phần đời của tác giả và họa sĩ Nghiêu Đề, phu quân quá cố, về thuở khó khăn mới đến được với nhau và quãng đời nghệ thuật hạnh phúc ở Sài Gòn từ thập niên 1960 đến biến cố năm 1975, về quãng đời bi thảm với những “chết đi sống lại” ở cư xá Thanh Đa, bên cạnh những tình bạn và tình người khi miền Nam rơi vào tay Cộng sản trước khi sang đến bờtự do đổi đời thành lưu vong. Quá khứ buồn vui như một hiện diện bình an, hạnh phúc, nhưng cũng mang tính ám ảnh. Con chữ xuôi dòng, cưu mang hạnh phúc và lời thơ nhẹ nhàng dẫn và lẫn vào thế giới hội hoạ của Nghiêu Đề – tác giả, một phân thân nghệ thuật đã từng nhưng nay “Không Đứng Mãi Trong Tranh” vì đã đôi ngã phân ly ngày ?-11-1998. Một Chín Chín Tám là thơ tiễn biệt:
“Ta chôn chồng ta
Một lần duy nhất
Ở giữa rừng gai
Không hoa trái mọc / Đất đá
Rực cháy những lởa điêu tàn
Ta. / Đứng giữa trời, lặng thinh
Không khóc
Ta phủ xác người
Bằng bức tranh xưa
Nét vẽ sắc như ngàn dao cắt
Vẽ mắt ta / một trời sao lặng
Có tàn phai / Mệt.
dấu trăng soi
Ta chôn chồng ta một lần duy nhất
Mắt của ta ở lại
Với người” (tr. 96)
Một lần duy nhất
Ở giữa rừng gai
Không hoa trái mọc / Đất đá
Rực cháy những lởa điêu tàn
Ta. / Đứng giữa trời, lặng thinh
Không khóc
Ta phủ xác người
Bằng bức tranh xưa
Nét vẽ sắc như ngàn dao cắt
Vẽ mắt ta / một trời sao lặng
Có tàn phai / Mệt.
dấu trăng soi
Ta chôn chồng ta một lần duy nhất
Mắt của ta ở lại
Với người” (tr. 96)
Dù muốn hoàn thành bức tranh dở dang – vì “nhớ như điên là cái mùi nồng nồng ngai ngái của sơn dầu” nhưng rồi “sơn dầu, hương từ những bức tranh của Nghiêu Đề, chắc sẽ hoài là nỗi ám ảnh cho đến ngày tôi tắt thở” và đành “vẽ tranh trong thơ”:
“Đỏ / Rất đỏ
Ta tung màu lên tóc
Và, xám xanh
Lấp đầy hai con mắt
Ta. / vẽ ai đây?
Giữa đêm tàn
Thắp sáng trong tranh
Trăm ngọn nến
Réo hồn ai bằng tiếng thở khan
Phải rất trắng, như lòng ta thanh khiết
Vẽ như điên
những ai oán muôn trùng
Vẽ như điên
tiếng khóc ta, rất nhỏ
Bằng chút màu như của
đất chôn” – 1999
Ta tung màu lên tóc
Và, xám xanh
Lấp đầy hai con mắt
Ta. / vẽ ai đây?
Giữa đêm tàn
Thắp sáng trong tranh
Trăm ngọn nến
Réo hồn ai bằng tiếng thở khan
Phải rất trắng, như lòng ta thanh khiết
Vẽ như điên
những ai oán muôn trùng
Vẽ như điên
tiếng khóc ta, rất nhỏ
Bằng chút màu như của
đất chôn” – 1999
(Chân Dung, tr. 23)
Không Đứng Mãi Trong Tranh còn là những hình ảnh những thân tình văn học nghệ thuật khác – Trần Quang Lộc, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Nguyễn Đình Toàn, Phạm Thiên Thư, …
Năm 2025, Lê Chiều Giang đứng chung với hai nhà thơ nữ duyên và Nguyễn Thị Khánh Minh tuyển tập Thơ do nhà Văn Học Press xuất bàn. Thơ Lê Chiều Giang trong đây vẫn là những ám ảnh của những lâm chung, ly bôi, mất tích, cùng nỗi cô đơn và cảm nhận định mệnh. Bài thơ Bản Thảo như ghi lại niềm vui tìm thấy:
“Thơ rất thiếu. Mà / văn chương chưa đủ
Ta môm chồng giấy trắng / hoang mang
Bôi xóa hết. Chuyện / của ngàn năm …
Ta đốt Điếu Văn thay / Tiền âm phủ
Có những nỗi oan / Tính viết lời chống đỡ
Mà mực khô, mà / Ý cạn. / Tay run.
Chẳng nói gì đâu / Chẳng viết gì hơn
Ta như giấy trắng. Như / một tờ giấy mới
Đời cứ thương yêu. Dù / có ngàn năm đợi
Ta hiến dâng người
Trang: Bản thảo tinh khôi” (tr. 98-99)
Ta môm chồng giấy trắng / hoang mang
Bôi xóa hết. Chuyện / của ngàn năm …
Ta đốt Điếu Văn thay / Tiền âm phủ
Có những nỗi oan / Tính viết lời chống đỡ
Mà mực khô, mà / Ý cạn. / Tay run.
Chẳng nói gì đâu / Chẳng viết gì hơn
Ta như giấy trắng. Như / một tờ giấy mới
Đời cứ thương yêu. Dù / có ngàn năm đợi
Ta hiến dâng người
Trang: Bản thảo tinh khôi” (tr. 98-99)
Linh Vang trong giai đoạn này xuất bản các tập Lan Man Tùy Bút (2016), Một Góc Trời Tây Bắc (2017) và Tình Yêu Như Bóng Mây (2025) cũng như tái bản các tập truyện ngắn Sau Cơn Mưa và Bến Hạnh Phúc (LOVE Publishing) của thời trước. Về truyện ngắn, người đọc thường bắt gặp những người nữ đa tình, sinh viên, nhân viên, trẻ có và luống tuổi có,… Trên xứ người khó mà cũng dễ có những tái ngộ người xưa, như trong truyện Hội Ngộ Trường Xưa, là chuyện bà Thục: “Bà Thục và ông Tân – chồng bà – vừa đi chơi Hawaii về. Đi chơi xa chỉ có một tuần mà nhớ cháu quá nên khi về là tới thăm ngay. Gần hai năm trước bà muốn giữ cháu nên đã chọn về hưu sớm khi cháu vừa ra đời. Chỉ có một cậu con và đây là đứa cháu đầu nên bà cưng cháu lắm. …
Có lẽ bà cũng chẳng buồn nhớ chuyện xưa, nếu như người bạn gái học chung trường năm xưa đã không gọi phôn thúc giục, “Thục có đi không mà vẫn chưa thấy ghi danh?”.
Ba chục năm trước… Thục nhớ ngày đó nàng đã đau khổ khi Tuyên bắt đầu hờ hững với nàng. Nàng vẫn còn đang yêu hắn và hắn chưa hẳn đã có ai khác, chỉ là mới bắt đầu dòm ngó một cô bé còn ở Trung Học vì có người kể lại cho nàng nghe là Tuyên đã đến thăm người đó, tay ôm một bó hoa hồng nhung đỏ thẫm, trong khi Tuyên chưa mua cho Thục một món quà nào, nói chi là một bó hoa đắt tiền….”
Thất tình, bà lập gia đình với Tân, người chồng hiện nay. Bà nhận được thư mời dự “đại hội của cựu sinh viên Việt Nam”. Bà chần chừ và cuối cùng cùng chồng dự đại hội, và gặp lại Tuyên, do bạn bà đắt tới. “Nhìn ông ta tóc bạc phơ, nét già nua bện trên từng đường nhăn trên mặt, trên cổ… – Chắc Thục còn nhớ anh Tuyên chứ? Bà Hân nheo mắt. Bà Thục thảng thốt một vài giây, rồi cơn giận lại ùn ùn kéo tới, đôi mắt bà tránh ánh nhìn chăm chăm của ông Tuyên, lãnh đạm ngó lơ chỗ khác vờ như đang bận nhìn ai khác. – Chào… chị Thục, thật bất ngờ gặp chị ở đây. Ông Tuyên lúng túng mở lời. Tự nhiên bà Thục cười khẩy. Cố ghìm lòng để không nói ra những lời cay nghiệt: – Chào… ông Tuyên, quả đất tròn nhỉ? Nói xong, bà quày quả xoay qua bàn bên cạnh nắm tay một người đàn bà vừa đưa tay nắm với nét mặt quen thuộc; nhất thời bà chưa nhớ được tên mà chỉ nhớ bà ấy là một người bạn chung Phân Khoa ngày nào. Dù vậy, trong lòng bà dường như có chút xao động vì sự hiện diện của ông Tuyên; nhưng chỉ một thoáng thì sóng yên gió lặng liền. Lòng bà trở nên nguội lạnh tức thời nhường cho sự bao dung, thông cảm. Bà tự nhủ lòng phải hoàn toàn quên bỏ và tha thứ cho Tuyên. Con người ai cũng có số phận và duyên nghiệp và nhất là trời cũng tưởng thưởng cho bà có được một người chồng mực thước, con ngoan, dâu hiền, cháu giỏi. Nghĩ cho cùng bà nên cám ơn ông Tuyên hơn là hờn giận…”
“Đang đứng chờ ông Tân và chào tiễn biệt mọi người cùng ra về, ông Tuyên bất ngờ xuất hiện, nghiêng vai, giọng thành khẩn, nói nhỏ vừa đủ cho bà nghe: – Xin Thục tha thứ cho tôi những lỗi lầm xưa cũ. Tôi nợ Thục một lời xin lỗi từ mấy chục năm nay. Cũng may gặp lại… bà hôm nay, nói được với bà một câu để mong được nhẹ lòng. – Thôi chuyện đã rất cũ rồi, ông không cần phải áy náy làm gì nữa. Đáng lẽ tôi phải cám ơn ông vì mấy chục năm qua tôi đã sống một cuộc sống đầy đủ, hạnh phúc; có một người chồng rất mực yêu vợ thương con. Và sau hết, tôi thực tình cũng cần xin lỗi ông vì có cử chỉ không phải với ông khi vừa gặp mặt. Tôi thực lòng cầu mong ông có cuộc sống an bình hạnh phúc như tôi; con cháu đầy đàn và có một tình yêu đích thực. Con người ai cũng có số mệnh; người gặp người phải là một duyên phận tiền định. Bà Thục vừa dứt lời thì ông Tân cũng vừa tới nơi. Bà Thục nắm tay chồng, hai người sánh vai cùng bước ra khỏi cửa: – Anh có vui nhiều như em đêm nay không? – Hạnh phúc của em là hạnh phúc của anh mà. Thấy em vui vẻ gặp lại bạn bè cũng làm cho anh nhớ lại những ngày xưa thân ái của chúng mình…” (18)
Y La Lê Khắc Ngọc Quỳnh có tập truyện Nét Phong Lan (Nhân Ảnh, 2005).
Ngọc Ánh xuất bản và tái bản cùng năm 2016 tập Ngày Tháng Buồn Hiu kể chuyện đoạn trường của gia đình sau ngày miền Nam rơi vào tay Cộng sản Hà Nội. Chồng là sĩ quan QL / VNCH chống chế độ đã bị tử hình, tác giả vào tù và con trai ra đời bị tật nguyền (sau được tổ chức từ thiện đưa sang Thụy Sỹ chữa trị – và mất năm 2024). Tác giả kể “Ba tôi là một người Cộng Sản, ông đã tham gia cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp chống Mỹ, các chị em tôi lớn lên ở Sàigòn, nằm trong lòng “địch” nhưng cả nhà đều là những chiến sĩ xung kích trên khắp các mặt trận ở miền Nam cho đến ngày “giải phóng”. Má thì nuôi giấu cán bộ Việt Cộng, các chị em thì làm giao liên. Sau 30/4/75, ba và chị tôi được đón về từ nhà tù Côn Đảo như những người vinh quang nhất trong ngày vui đại thắng, gia đình tôi là một địa chỉ đỏ của thành phố với nhiều huân chương kháng chiến chống Mỹ được treo đầy tường... Còn tôi, tôi đã vào tù với cái tội chống kháng chiến chống Mỹ, sự đời có những điều trớ trêu và đau lòng trong cảnh nồi da xáo thịt! (…)
Thực tế của cái thiên đường Xã hội chủ nghĩa đã làm tôi điên tiết chán chường, trong nỗi thất vọng phẫn nộ tôi không biết đặt niềm tin vào ai bây giờ ngoài cách viết nó ra cho đở ấm ức, thế là những trang “Nhật Ký Mực Tím” hình thành trong lao tù cách mạng, cái nhà tù lớn nhất của cả miền Nam từ sau tháng Tư đáng nguyền rủa ấy. Trong đôi mắt của một cô học trò tỉnh nhỏ như tôi lúc bấy giờ hoàn toàn không có một thế lực thù địch nào đứng sau lưng để xúi giục manh động, tôi viết ra tất cả những gì mà tôi biết, tôi thấy khi sống trong chế độ giả trá có quá nhiều bất công và nghèo khổ này, sự cảm nhận có thể chủ quan nhưng không có nghĩa là không trung thực khi vẽ nên bức tranh xám xịt phô bày thực trạng tệ hại của xã hội mà tôi đang từng ngày đối đầu với nó. Tôi đã viết trong nỗi xót xa bất lực của chính mình.
Cuốn nhật ký được chuyển ra nước ngoài năm 1979 và được in làm nhiều kỳ trong tạp chí “Việt Nam Hải Ngoại” tại San Diego, California cùng năm. … Cuối cùng thì tôi thoát ly cái gia đình cách mạng của mình để trở thành vợ tên phản động…” (tr. 4, 7-8)
Nhà Nhân Ảnh gần đây xuất bản một số tác giả nữ mới như Trần Kiêm Trinh Tiên (1953, Huế – ) với tập truyện ngắn Hạt U Minh, Hương Dạ Thảo (Trần Thị Thu Thảo; 1965, Bình Định – ) với một loạt tiểu thuyết Thần Tượng Nơi Tình Yêu; Tình Yêu Là Gì?; Hoa Trên Đá; Biển Khơi; Hương Cỏ Đêm – tất cả in trong năm 2025.
*
Hậu duệ của các nhà văn, ngoài các tác giả đã ghi trong các phần trước, thời này ghi nhận thêm:
Từ Dung (1946, Hà Nội – ) định cư tại Hawaii năm 1990, có Hồi Tưởng (Nhân Ảnh, 2021) ghi là “tiểu thuyết” nhưng toàn tập chứa nhiều mảng ký ức về gia đình và quãng đời đã qua – như lời giới thiệu “Đây là tự truyện của một Nghệ Sĩ, nhà Giáo Dục và cũng là một nhà văn “tiểu thư”, hậu duệ Tự Lực Văn Đoàn”. Nội dung không theo tuần tự thời gian, tác giả đưa người đọc đến với cuộc đời trôi nổi của bà, những thời bình yên, khoảnh khắc tan rã, và những hạnh phúc, chia lìa, từ Sài Gòn ra đến Hawaii và lục địa Hoa Kỳ.
Doãn Kim Khánh xuất bản tập truyện ngắn đầu tay Thầm Lặng (Westminster CA: Doãn Gia, 2020), phụ lục truyện Anh ngữ. Cũng là đồng dịch giả với Trần Bích Ngọc tác phẩm Preserving Values / Gìn Vàng Giữ Ngọc (2024) của Doãn Quốc Sỹ, thân phụ. Trích đoạn bút ký Thầm Lặng viết về thân mẫu sau khi bà mất năm 2011:
“Tháng 9 năm 1954 mẹ theo bố vào Nam. Trước đó bố hoạt động ngang dọc, sáng ngời lý tưởng, rồi ê chề thất vọng. Quyết định vào Nam là của bố, mẹ chỉ bế hai con và dắt cô em chồng 17 tuổi theo. Trong Nam, bố tưng bừng thi thố tài năng, tay phấn tay bút. Mẹ thầm lặng ở nhà nuôi dạy con và chăm chút em. Dân số con từ hai tăng thành tám. Tám con tám tính, có lúc hư lúc ngoan; mẹ theo từng bước, khen chê mắng mỏ. Cô em chồng tốt nghiệp Đại Học, chuẩn bị lên xe hoa, mẹ lo toan chuyện cưới hỏi. Bố vất vả bên ngoài, về nhà chỉ cần đảo mắt nhìn là thấy mọi sự tươm tất. Ra đường, các con được gọi là “con bố”, em là “em anh”, không ai biết có một nhân vật thầm lặng đã làm nên những con người ấy.
Vào những năm thăng tiến trong cả hai nghề dạy và viết, bố hay mời khách về nhà đãi đằng. Mẹ tiếp khách lịch thiệp, rồi rút về hậu trường trổ tài nấu nướng. Trước khi ra về các bác bao giờ cũng chào “bà chủ” trong tiếng cười hỉ hả “Cám ơn chị cho một bữa ngon quá.” Thỉnh thoảng có những vị khách nữ, khen thức ăn và khen cả ông chủ. Tôi còn nhớ có người còn nói rất chân tình với mẹ: “Chồng em mà được một phần của anh thì em chết cũng hả.” Hình như mẹ đón nhận lời nói ấy như một sự khen tặng cho chính mình.
Rồi chính sự miền Nam nóng bỏng; ngòi bút bố cũng nóng theo. Các bạn bố đến chơi chỉ bàn chuyện cộng sản và quốc gia. Mẹ không mấy quan tâm đến “chuyện các ông”, nhưng khi bố đi Mỹ du học, mẹ ở nhà điều hành việc bán sách thật tháo vát. Khoảng hai tuần một lần, mẹ đi xích lô đến trung tâm Saigon, rảo một vòng các tiệm sách để xem họ cần thêm sách nào. Sau đó mẹ cột sách thành từng chồng và “đáp” một chuyến xích lô khác để giao sách. Tôi hay mân mê những sợi dây được cột chắc nịch, xuýt xoa: “Sao mẹ cột chặt hay thế”.
Thế rồi chính sự miền Nam đến hồi kết thúc. Con người không chính trị của bố lại một lần nữa ê chề. Ngày công an đến bắt bố đi, mẹ con bàng hoàng nhìn nhau. Các con chưa đứa nào đến tuổi kiếm tiền. Mẹ xưa nay thầm lặng trong vai “nội tướng”, giờ miễn cưỡng ra quân. Tiền dành dụm của gia đình không đáng kể. Có tám miệng để nuôi, có bố nhục nhằn trong lao tù đợi tiếp tế. Mẹ vụng về tìm kế sinh nhai. (…) Chuyện thăm nuôi bố và lòng thương bố quan trọng lắm, những cũng chỉ là một phần trong những cái quan trọng khác trong đời. Chỉ đối với mẹ, những thứ ấy mới là tất cả, độc tôn choáng ngập tâm hồn mẹ. Mẹ hẳn có những lúc thấy tức tưởi và cô đơn mà các con nào hay biết. Có vài lần chúng tôi lỡ một lời nói hoặc cử chỉ không vừa ý mẹ, mẹ òa khóc tu tu, lớn tiếng kể lể, tuôn trào như một giòng lũ không ngăn được. Lúc ấy chúng tôi mới choàng tỉnh.
Ngày mãn hạn tù về, bố bình an như một thiền sư, để lại sau lưng hết cả những thăng trầm của quá khứ. Rồi bố mẹ sang Mỹ ở Houston sống cùng cậu trưởng nam. Mẹ bận bịu với cháu nội, nhưng không quên nhắc ông nội đi tắm và bao giờ cũng nặn kem đánh răng vào bàn chải cho ông mỗi tối. Thỉnh thoảng giao tiếp với họ hàng và bạn bè, mẹ lại phải đỡ lời cho bố, khi bố cứ mỉm cười mà không nói năng chi. Thư viết về cho con cháu ở Việt Nam, ai cũng nói mẹ viết hay hơn ông nhà văn Doãn Quốc Sỹ. Lúc đó chắc mẹ tự nhủ thầm rằng: “bởi vì mẹ là con của ông Tú Mỡ mà!”
Như thế được mười năm thì mẹ ngã bệnh. Hôm nay, ở giai đoạn cuối của căn bệnh Alzheimer, mẹ nằm bất động một chỗ và không nói được nữa. Nhưng mẹ vẫn đưa mắt nhìn bố mỗi lần bố ra vào trong phòng. Hôm nào bố vắng nhà vài ngày thì mẹ nhìn con trai, mắt dò hỏi lo lắng. Khi bố về thì mẹ vẫn nhìn bố, ánh mắt yên tâm hơn. Mẹ thầm lặng hơn bao giờ hết. Dưới mắt bố con chúng tôi, sự thầm lặng ấy càng ngày càng tỏa sáng”.
Năm 2022, mừng nhà văn Doãn Quốc Sỹ được 100 tuổi thọ, “các con cháu xin kính tặng tập sách cho sinh nhật bách niên của Bố Sỹ”, tuyển tập “văn thơ nhạc” Sáng Nay Mùa Xuân ( Westminster CA: Doãn Gia, 2022. 322 tr.).
Nguyễn Đình Phượng Uyển (1966, Sài Gòn – ) hiện cư ngụ Sydney, Úc, khởi viết năm 2018 cộng tác với các tạp chí văn học hải ngoại; năm 2021 được Giải Nhất văn xuôi của tạp chí Ngôn Ngữ . Đã xuất bản tập truyện Hồi Tưởng (Nhân Ảnh, 2021), tiếp theo là “tuyển tập viết ngắn” Ngọn Đèn Lu (Úc: TGXB, 2024), với 32 tựa bài. Truyện và bút ký của NĐPU thường ngắn, tuy có đủ buồn vui cuộc đời và bề sâu tâm cảm.
Trích đoạn tác giả hồi tưởng: “Thuở bé, mỗi chủ nhật, anh em tôi thường được bố mẹ chở đi chơi. Chỗ thường ghé nhất là quán kem Givral ở góc đường Tự Do và Lê Lợi. Chúng tôi được chọn món kem hay bánh ngọt mình thích, dù đó là phần mình ăn không hết. Mẹ tôi tiếc của, bảo lựa món nào hai đứa cùng ăn chung được. Thế là anh em cãi nhau loạn xị. Bố tôi chặc lưỡi “Kệ! Cứ để tụi nó lựa riêng đi” Mẹ tôi thở dài nhưng khỏi nói cũng biết là anh em tôi sướng đến phát rồ. Chủ Nhật mà! Nhiều khi chúng tôi còn được bố cho mấy đồng cắc để bỏ vào cái máy trong tiệm cho nó phát ra nhạc nữa. Ăn chán, các cụ dẫn chúng tôi qua công viên bên kia đường chơi, nơi có tượng một người lính mặt mũi đen sì, đầu đội nón sắt, tay cầm súng, dáng như đang tiến công. Hồi đó tôi sợ bức tượng này vì gương mặt rằn ri của người lính và vì nó to quá khổ so với đứa bé năm sáu tuổi như tôi. Bức tượng làm tôi nghĩ đến ông khổng lồ chuyên đi bắt con nít về ăn thịt trong truyện Cậu Bé Tí Hon.
Có khi chúng tôi được đi xem phim chưởng hay phim trẻ con nữa. Đến giờ tóc đã đổi màu, tôi vẫn còn nhớ cảnh Bạch Tuyết nằm chết trong hòm kính trong suốt rắc đầy hoa, xung quanh là Bảy chú lùn khóc tỉ tê hay chiếc áo đầm rực rỡ màu vàng Mặt Trời, lấp lánh màu trắng Mặt Trăng và lung linh màu xanh Biển của Công Chúa Da Lừa… Tôi mơ được gặp các diễn viên đó ngoài đời và mơ mình sẽ có những bộ váy đắt tiền ấy. Tối nằm ôm gối, tôi còn ước được nắm tay các chàng Hoàng Tử khôi ngô tuấn tú trong phim, rồi nhắm tít mắt lại cười rúc rích.
Saigon khi ấy, trước khi vào phim chính, người ta hay chiếu phim thời sự. Vài lần tôi nhìn thấy Bố mình trên màn ảnh trong khúc phim này. Số là ông được lãnh Giải Nhất Văn Học Nghệ thuật Toàn quốc của chính phủ Việt Nam Cộng Hoà nên người ta làm phóng sự. Tôi nhớ Bố tôi mặc complet đen, tóc bôi keo bóng loáng, chải ngược ra sau khoe vầng trán rộng, mắt kiếng gọng sáng, lên bắt tay Tổng Thống. Mấy anh em lao xao “Bố kìa! Bố kìa!” cốt để khoe với người chung quanh nhưng rạp đã tắt đèn, chả ai thèm quay nhìn lũ con nít…”.
Thi ca
Luân Hoán tiếp tục sáng tác và xuất bản Thơ Thơm Từ Gốc Rễ Tình (2015); Ngao Du Cùng Vũ Khí (2016); Tâm Chân Dung (2018 thơ của Luân Hoán viết tặng 113 bạn văn); Khói Cuối Nguồn Hương (2016); Liên Hoa Thi (2019); Ba Hoa Huê Tình (2020); Nhánh Tình Thời Chưa Mê Gái (hồi ký văn vần, 2021); Hư Ảo Cõi Hương (thơ “trang thờ” văn và thân hữu; 2021); Tay Chạm Vai Gần (2024); Nỗi Nhớ Quê Nhà Từ Montréal (2024),…
Đinh Cường (1939-2016), họa sĩ nhiều duyên văn nghệ với sinh hoạt văn học miền Nam, từ năm 2010 cho đến khi mất, ông viết nhật ký thơ và cho phổ biến trên mạng internet, những bài thơ ghi lại cảm xúc của ông về những sự kiện xung quanh ông, về tình cảm của ông đối với quê hương, gia đình, bạn hữu – nhiều câu thơ xuất thần làm xao động lòng người. Khoảng 200 bài thơ của ông đã được in thành 2 tập Cào Lá Ngoài Sân Đêm (Thư Ấn Quán, 2014) và Tôi Về Đứng Ngẩn Ngơ (Quán Văn, 2014).
Hà Thúc Sinh đã xuất bản tuyển tập Ngàn Lời Thơ – toàn tập (Cobale, 2017).
Hải Phương với Cảm Ơn Tháng Giêng Biêng Biếc Ngực Em Cười (Queen, 2006) và Một Thiên Thu Với Rộng Tà Áo Bay (Queen 2007) nỗ lực làm mới thi ca qua thi ý cũng như ngôn từ.
Trần Dạ Từ (1940, Hải Dương – ) năm 2018 xuất bản Thơ Trần Dạ Từ (Việt Báo Foundation Hoa Kỳ, 2018) tuyển 60 năm làm thơ với 7 thi tập đã xuất bản. Xin ghi lại bài Như Mấy Con Tê Giác Cuối Cùng với trích thơ Vũ Hoàng Chương mở đầu:
“…Lũ chúng ta, lạc loài dăm bảy đứa!”:
“Không phải chuyện người ngoài hành tinh,
nhân vật của tiểu thuyết phim ảnh
Cũng không phải
tay vô địch cờ vua thế giới,
một cái máy thông minh
Đây là thứ vô hình nhưng có thật:
Mơ và Yêu. Hơi thở đầu tiên
Bật lên cho loài người sự sống
nhân vật của tiểu thuyết phim ảnh
Cũng không phải
tay vô địch cờ vua thế giới,
một cái máy thông minh
Đây là thứ vô hình nhưng có thật:
Mơ và Yêu. Hơi thở đầu tiên
Bật lên cho loài người sự sống
Để mang màu xanh sự sống tới trái đất
Mơ và Yêu là thứ được sinh cùng chúng ta
Sinh cùng nơi, cùng lúc
Lớn lên cùng chúng ta, như đứa trẻ
Hắn mơ mộng và yêu
Mơ và Yêu là thứ được sinh cùng chúng ta
Sinh cùng nơi, cùng lúc
Lớn lên cùng chúng ta, như đứa trẻ
Hắn mơ mộng và yêu
Kẻ mơ mộng nhìn ra từ phía trong
Đôi mắt dịu dàng của linh hồn lấp lánh
Hắn thực sự thấy em, thấy tôi
Và hắn thực sự yêu
Đôi mắt dịu dàng của linh hồn lấp lánh
Hắn thực sự thấy em, thấy tôi
Và hắn thực sự yêu
Rủi thay, cái nhìn thực, tình yêu thực
bị coi là gai nhọn làm ngứa mắt quyền lực
Cả bọn mơ mộng liên tục bị săn lùng
Màu xanh cuộc sống liên tục bị truy bức
bị coi là gai nhọn làm ngứa mắt quyền lực
Cả bọn mơ mộng liên tục bị săn lùng
Màu xanh cuộc sống liên tục bị truy bức
Như mấy con tê giác chờ tuyệt chủng
Bọn mơ mộng cuối cùng của một thời
Dăm ba tên còn lại
trong cái hõm trên mặt đất trần trụi
Vui với tình cảnh mình, chúng cười
Bọn mơ mộng cuối cùng của một thời
Dăm ba tên còn lại
trong cái hõm trên mặt đất trần trụi
Vui với tình cảnh mình, chúng cười
– Ê, mày biết, ngay lúc này, thế giới này
Bọn mày là thú hiếm, rất hiếm
Như tình yêu, mày sống sót
Và mày là Thi Sĩ”.
Bọn mày là thú hiếm, rất hiếm
Như tình yêu, mày sống sót
Và mày là Thi Sĩ”.
Trần Hoài Thư thêm Xa Xứ (2016), Vịn Vào Lục Bát (2017), Khi Nhớ Về Bà Gi (2018), Bão (2020),v.v. Trích bài Điếu Thu sáng tác khoảng năm 2017 như một nốt buồn thân phận:
“Tôi đi, thì tôi đi đây
Đi đâu, đường vẫn rụng đầy lá thu
Hôm qua trời quá sương mù
Hôm nay trời vẫn một màu bệnh nhân
Đi đâu, đường vẫn rụng đầy lá thu
Hôm qua trời quá sương mù
Hôm nay trời vẫn một màu bệnh nhân
Tôi đi, đất lạ, trời gần
Có hàng cây dẻ trụi cành nhìn theo
Ngôi giáo đường trắng đìu hiu
Hồi chuông đã đổ tiễn chiều vào đêm
Trên nhành một lũ quạ đen
Oác lời cho thảm điệu kèn điếu thu
Chỉ tôi, không ai tiễn đưa
Khi đời đã rụng cuối mùa thanh niên” (VVLB, tr. 15)
Phạm Nhã Dự (Lê Văn Hải;1943, Gia Định- ), năm 2017 đã xuất bản thi tuyển của cả đời thơ Ở Phương Đông Có Một Vầng Trăng (Westminster CA: Văn Học Mới). Nếu trước 1975, nội dung thơ Phạm Nhã Dự phản ánh tâm tình thanh niên Việt trong thời chiến (ông là sĩ quan quân lực VNCH), thân phận nhược tiểu trước súng đạn của bạo động,tranh chấp quốc tế, thì sau khi định cư ở Boston MA, thơ ông lúc đến gần bạn hữu, lúc đầy chiêm nghiệm như bài Ở Phương Đông Có Một Vầng Trăng là những cảm nhận rất triết lý mà cũng rất Việt-tính- nhà thơ cho biết đã “Cảm theo một ý trong tác phẩm cùng tên, Journey to the East của B. Spalding”:
“Ở phương đông có một vầng trăng
Chiếu xuống đỉnh đời lạnh lẽo
Trong cõi mang mang khuất nẻo
Bóng dáng đi về ai hẹn một hôm sau
Chiếu xuống đỉnh đời lạnh lẽo
Trong cõi mang mang khuất nẻo
Bóng dáng đi về ai hẹn một hôm sau
Người đã qua muôn nẻo mưa mau
Hạnh ngộ chưa từng trang giấy lật
Hạnh ngộ hôm qua hôm kia là thật
Là bóng trăng soi rọi u mê
Có phải đời người là cuộc rong du
Ai đâu thấy hồn mình lạc bước
Ai chợt thấy hình nhân thuở trước
Rùng mình lạnh ớn cơn say
Ở phương đông có một vòng tay
Mà cuộc hành trình ai bước lại
Điệu khóc, nụ cười từng trải
Nhẹ thếch chuyện đời lưng núi quay
Lời nói nào đã tỏ đêm nay
Hay hôm sau ngày nọ
Lững thững bước đêm dài hạnh ngộ
Bước không về nổi một cơn mê
Bóng đường xa mờ tỏ chưa hề
Sống chết hồn bạt phiêu lãng đãng
Cứ ngớ ngẩn cứ vui cứ chán
Nỗi quạnh hiu mấy nẻo u trầm
Ở phương đông có một vầng trăng
Chiếu xuống đỉnh hồn bối rối”. (tr. 28-29)
Nhà thơ khá nhiều bạn thơ cũng như nhà báo. Bài Ngày Ở Boston ghi lại chuyện ẩm tri âm:
“Rượu phù sinh với rượu tình
Uống vô chút đỉnh thấy mình lêu bêu
Thấy đời như bãi nước chiều
Thấy trong cơn mộng dặt dìu bạn, ta
Thấy hạo nhiên với trăng tà
Em khoan thai bước, trở ra. Bụi hồng…
Chổng đầu ngái giữa hư không
Tỉnh ra còn rượu tri âm. Gọi là… – 1997 (tr. 61)
Uống vô chút đỉnh thấy mình lêu bêu
Thấy đời như bãi nước chiều
Thấy trong cơn mộng dặt dìu bạn, ta
Thấy hạo nhiên với trăng tà
Em khoan thai bước, trở ra. Bụi hồng…
Chổng đầu ngái giữa hư không
Tỉnh ra còn rượu tri âm. Gọi là… – 1997 (tr. 61)
Hoàng Xuân Sơn thêm Thơ Quỳnh (Tủ sách T. Vấn, 2017; Văn Học Mới tb, 2019).
Đặng Phú Phong sau 1975, bị tù “cải tạo” đến 1982. Sau khi định cư tại Hoa Kỳ, làm báo, làm thơ và viết văn và đã xuất bản các tập thơ Nỗi Buồn Tháng Bảy (2014), Mai Tôi Về Ở Mãi Với Hoang Sơ (2017), Tĩnh Vật Tôi. Chờ Một Bàn tay (Văn Học Mới, 2019); Và Nhớ Em Nhiều, Cả Lúc Quên (2018), Chạm Ngõ Vô Thường (2021); các tuyển tập truyện ngắn Những Đóa Mẫu Đơn (2004, tb 2015), Con Suối Không Lìa (2018); và tập phỏng vấn, nhận định về văn học nghệ thuật Bên Kia Con Chữ & Nghệ Thuật.
“I– Đêm . Mưa . Xẻ áo, chia lời.
Không ngăn mà cách hai đời rưng rưng.
Tro người tốt đất, xanh rừng.
Bỏ đi. Quanh quẩn dở chừng chiêm bao
II– Đêm mưa . Xẻ áo chia người,
Ngăn không?- mà cách. Gọi mời tử. sinh.
Thôi em, dỏm dáng chi tình.
Xả. Quên. Mộng, mị, bình sinh mới là” – 1-2012
Không ngăn mà cách hai đời rưng rưng.
Tro người tốt đất, xanh rừng.
Bỏ đi. Quanh quẩn dở chừng chiêm bao
II– Đêm mưa . Xẻ áo chia người,
Ngăn không?- mà cách. Gọi mời tử. sinh.
Thôi em, dỏm dáng chi tình.
Xả. Quên. Mộng, mị, bình sinh mới là” – 1-2012
(Chiêm Bao)
Thơ Đặng Phú Phong, thơ đang hình thành, thơ qua thử nghiệm, tìm lối:
“Hoa đào rụng hết nhiều bông nhưng vẫn chờ tôi dăm đóa lặng lẽ
Tôi áp tai vào nụ cuối
Nghe như Napoleon nghiêng tai nghe xác ướp Pharaon Ai Cập
Vô thanh nhưng đầy xúc cảm
Tôi về / Nơi nào cũng về
Từ lúc về với đời
Lúc về Mỹ
Lúc về Việt Nam và lúc về với đất
Đi là bước chân
Về là yên nghỉ
Ngắn dài như chấm phẩy thật thường. yên.” (Về)
Tôi áp tai vào nụ cuối
Nghe như Napoleon nghiêng tai nghe xác ướp Pharaon Ai Cập
Vô thanh nhưng đầy xúc cảm
Tôi về / Nơi nào cũng về
Từ lúc về với đời
Lúc về Mỹ
Lúc về Việt Nam và lúc về với đất
Đi là bước chân
Về là yên nghỉ
Ngắn dài như chấm phẩy thật thường. yên.” (Về)
Chạm Ngõ Vô Thường, bài tiêu biểu cho giai đoạn gần đây nhất, tâm thức của kẻ nhiều kinh qua của cuộc sống và đời thường, không còn gì quan trọng hơn tâm đạt đạo, trí an nhiên: “tôi” đã vào được ngõ đến, nơi không gì có thể so bì:
“tôi vẽ tôi buổi chiều biến dạng
dòng Santa mắc cạn tự bao giờ
đời ma mị nên mắt nhìn mê sảng
đom đóm bay lãng đãng bóng sương mờ
dòng Santa mắc cạn tự bao giờ
đời ma mị nên mắt nhìn mê sảng
đom đóm bay lãng đãng bóng sương mờ
tôi vẽ tôi một con thú tật nguyền
sau bao lần ngã ngựa lềnh khênh
dáng ai e ấp đời một nửa
bóng chiều dài quá giữa lênh đênh
sau bao lần ngã ngựa lềnh khênh
dáng ai e ấp đời một nửa
bóng chiều dài quá giữa lênh đênh
tôi vẽ tôi một cuộc đời vừa dứt
bàn chân còn hướng vọng mây trời
bàn tay khô bắt nhầm một kiếp
trắng đen vàng. lá đổ khắp chiều nay
bàn chân còn hướng vọng mây trời
bàn tay khô bắt nhầm một kiếp
trắng đen vàng. lá đổ khắp chiều nay
tôi vẽ tôi hành trình tìm đất lạ
cả cuộc đời sao vẫn một bước quen
đành cúi xuống chôn cả hình lẫn bóng
nuốt cô đơn. may quên được ưu phiền
cả cuộc đời sao vẫn một bước quen
đành cúi xuống chôn cả hình lẫn bóng
nuốt cô đơn. may quên được ưu phiền
tôi vẽ tôi / mắt xanh mắt đỏ
tôi vẽ tôi / chạm ngõ vô thường” (CNVT, tr. 82-83)
tôi vẽ tôi / chạm ngõ vô thường” (CNVT, tr. 82-83)
(còn nữa)
Nguyễn Vy Khanh






























