Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
nvktacpham9
 
 
Giai Đoạn Lão Hóa  & Chuyển Động Thế Kỷ (2001-2015)
(tiếp theo)
 
Các nhà văn nữ
 
Các nhà văn nữ đã là một hiện tượng đáng kể nhưng phẩm lượng lên xuống theo giai đoạn. Ở đây, chúng tôi ghi nhận chung thơ và văn:
 
Trương Anh Thụy xuất bản tiểu thuyết bộ ba Chuyển Mùa (THXBMĐ, 2004) dày 800 trang đã khởi đầu từ gần 10 năm trước với tập Trạm Nghỉ Chân. Tác giả muốn dùng tâm linh để đưa ra những đề nghị giải quyết những vấn-đề của người Việt trong ngoài nước hôm nay, qua nhiều thế hệ nhưng thế hệ sau vẫn sẽ phải tiếp tục cuộc hành trình khó khăn này…
 
Nguyễn Thị Vinh xuất bản tâm cảm Cỏ Bồng Lìa Gốc (2005); Thương Yêu, truyện dài (tb lần thứ 9, 2010); Nổi Sóng, truyện dài (tb, 2001), v.v.. Cỏ Bồng Lìa Gốc viết về thân phận người phụ nữ Việt Nam qua nhiều thời đại. ” Nếu như bồng là loại cỏ lá dài và rất nhẹ, hoa trắng bay phất phơ trong gió như bông, mà văn học cổ của người Tàu thường nhắc đến, thì quê nhà tôi cũng có một loại cỏ giống thế nhưng người mình gọi nó là cỏ lau, nhỏ hơn lau sậy”, “Những đám cỏ bồng, mùa khô, chết chùm quấn chặt lấy nhau. Gió thổi từng bó cỏ, bay trên cánh đồng, đồi bãi”,…
 
Lê Thị Huệ một mặt luôn đi tìm lối thoát văn hóa, xã hội – bà viết bút ký Văn Hóa Trì Trệ Nhìn Từ Hà Nội Đầu Thế Kỷ 21 (Văn Mới, 2001) sau thời gian làm việc ở Hà Nội, và là chủ biên trang mạng Gió O, mặt khác qua tác phẩm luôn tìm cách phát biểu nữ quyền và khi cần, thể hiện tự do sống thật như người nữ.
 
Nguyễn Thị Hoàng Bắc tiếp tục sự nghiệp với các tập truyện Nhện (Văn Mới, 2002), Gió Mỗi Ngày Một Chiều Thổi (Sống, CA, 2015) và tuyển thơ Chúng Tôi Vì Đàn Ông (Sống, 2016).
 
Nguyễn Thị Thanh Bình thì xuất bản Dấu Ấn (Văn Mới, 2004) và Thần Thánh Không Biết Yêu (Người Việt Books, 2018), truyện dài Giọt Lệ Xé Hai (Văn Khoa, 1991, 1993; tb Người Việt Books, 2018); các tập thơ Nhật Ký Của Những Mảnh Vỡ (Người Việt Books) và in chung với Hàn Song Tường và Đặng Phùng Quân tập truyện Tuổi Trẻ (Gió Văn, 2018).
 
Trần Thị Bông Giấy (Trần Thị Thu Vân) chủ trương tạp chí Văn Uyển, cũng là nhà xuất bàn, và đã xuất bản nhiều bút ký như Nước Chảy Qua Cầu (Văn Uyển, 1989), tập truyện Gã Cùi và Miếng Dừa Non hoặc truyện nhưng ghi là tâm bút như Một Truyện Dài Không Có Tên (1994), Trân Sa   (2000),… Như Tiếng Thở Dài đây là một tiếng thơ cho một thời chiến tranh và tình ái:
 
đêm từng đêm / ngồi đếm thời gian
nhìn những ngón tay ám nhựa khét thơm mùi thuốc lá
chiếc phản lực bay lên trời / cao vút
đem theo mơ ước, đem cả nỗi buồn
một nỗi buồn không có tên để gọi
trơ trọi, chơ vơ
như tiếng động cơ thét gào một mình trong đêm tối
 
đêm từng đêm
đợi nghe tiếng ầm ì xa vọng tới
hệt những điên cuồng từ tiềm thức cứ ngạo nghễ trồi lên
giữa cái đầu
không một phút giây yên nghỉ
cho những sợi thần kinh trí nhớ
 
đêm từng đêm
ngồi chờ chiếc phản lực bay qua
giữa thinh không mù mịt
đem theo nỗi buồn và cả ước mơ không có tên để gọi
chơ vơ, trơ trọi
ước mơ chưa thực hiện đã trở thành kỷ niệm
như tiếng thở dài sớm tắt lịm của thời gian”
(Con Tằm Đến Thác Vẫn Còn Vương Tơ. 2004, tr. 8).
 
Dương Như Nguyện (còn ký Uyên Nicole Dương/Wendy Duong) xuất bản tiếng Việt sau Mùi Hương Quế (Văn Nghệ, 1999), có tập truyện Chín Chữ Của Nàng (Văn Mới, 2005) cùng thời gian xuất bản tập truyện tiếng Anh Daughters of the River Huong, a Vietnamese royal concubine and her descendants do nhà Ravens Yard xuất bản, rồi Postcards From Nam do Nguyễn Thị Thanh Tâm dịch ra Bưu Thiếp Của Nam (Văn Mới, 2009),…
 
Lê Thị Thấm Vân từ thử nghiệm đã như đến lựa chọn một phong cách viết sống không giới hạn, từ tập thơ Yellow Night đến các truyện Âm Vọng, Bóng Gãy Của Thần Tích (2005) và Thời Hậu Chiến (2020) đã chứng minh nhà văn nữ có thể viết như sống và sống như tự cảm, tự chọn! Bà muốn làm chủ câu chuyện cũng như tác động hành xử tình dục, muốn đưa ra ánh sáng cái khuất chìm, đẩy nữ quyền đi xa hơn khi đặt trong khung cảnh văn hóa và chính trị của Việt Nam và đời sống ở hải ngoại cùng những con bệnh và tai mắt của thời đại.
 
Đặng Thơ Thơ đã xuất bản các tập truyện ngắn Phòng Triển Lãm Mùa Đông (Văn Mới, 2002) và Khả Thể (Người Việt Books, 2014). Khả Thể không còn là thể loại truyện/tiểu thuyết theo cấu trúc nhà trường hoặc thường thấy trước nay, mà rơi vào xu hướng hậu hiện đại. Như Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Lê Thị Thấm Vân,…
 
Khác các tác giả vừa kể, Đặng Thơ Thơ viết Khả Thể gần với tiểu luận hơn là sáng tác văn chương. Bà đã sáng-tác-là-kể-chuyện theo mảnh rời, lý phản nghịch nhau,… Kỹ thuật tìm kiếm đi lùi, lùi-về-quá-khứ, moi móc những thứ mà lịch sử/văn học sử đã xem như xong với những dữ kiện chung điểm hoặc đã hiển nhiên: tìm kiếm ý nghĩa tiềm ẩn, bị giấu dẹm, tìm kiếm những “khả thể” khác. Nói cách khác, kỹ thuật hậu-hiện-đại không từ bỏ một phương tiện nào kể cả siêu hình, hài hước, hoài nghi, đi con đường tránh, đi ngã khác, v.v. Xét lại, viết lại OK nhưng hành xử cái hiện tại mới thiết yếu. Quá khứ, tương lai phải có liên hệ tự tại và đi qua hiện tại. Đi tìm “khả thể” bằng xoay chiều, xoay vòng, đào sâu, khai quật vết tích từng mù mờ gốc gác hoặc lý luận cho ra lẽ do đó cũng là phương cách nghệ thuật phải là một đảm bảo hoàn toàn thật sự khả tín về sự thật và cho phép lương tâm chúng ta tỉnh thức một cách cụ thể và khách quan trước những gian dối có hệ thống của nền văn hoá  vật chất và lợi nhuận hoặc đã thành. Nếu không có cuộc sống tâm thức này, cái u tối, hèn hạ sẽ tiếp tục con đường của chúng trong ý thức chúng ta.
 
Cao Mỵ Nhân từ khi sang Hoa Kỳ, đã xuất bản những Ðưa Người Tình Ði Tu (2001), Lãng Ðãng Vào Thu (2001), Sau Cuộc Chiến (2003), Quán Thơ Tháng Ngày Còn Lại (2009), Nhịp Tim Thơ (thơ tình; Nhân Ảnh, 2016).
 
Ngô Tịnh Yên (1963-) đặc biệt về tình yêu, trước giai đoạn này bà đã xuất bản các tập thơ Ở Nơi Nào Cũng Có Tình Yêu (Nhân Chứng, 1994), Lãng Mạn 2000 (Đời, 1996), nay thêm Lục Bát Khỏa Thân– Trăng Mật (N&M, 2002) gồm 20 bài thơ tình nặng nhẹ hiện thực pha lãng mạn, thiền vị, như:
 
“Yêu nhau yêu cái răng khôn
Lỡ mai răng lệch biết hôn chỗ nào
Yêu cái răng khểnh thấp cao
Nếu như răng lệch chỗ nào mình hôn
Đã yêu đâu sợ mất còn
Răng long đầu bạc vẫn hôn như thường” (Hôn)
 
“… Một trang sách mở kinh tình
Đôi vòng tay mở tử sinh khôn lường
Phút giây hội ngộ vô thường
Nghìn năm bốc cháy trên hương phấn người” (Kama Sutra)
 
“… Thịt da không ở nhân gian
Tay bên Thiên Trúc chân sang Niết Bàn
Cảnh sát na chạm địa đàng
Đôi ta trôi giữa hỗn mang đất trời” (Uyên Ương)
 
Nhà thơ sẽ tiếp với Lục Bát Yên năm 2024 – được ca sĩ Khánh Ly giới thiệu: “Lục bát của Yên cũng êm như tiếng ru. Cũng đẹp như những cành phượng hồng ở quê nhà. Cũng lặng lẽ như mầu tím của đóa hoa nhỏ nhoi bên đường. Lục Bát của Yên là một góc phố nhỏ cho riêng hai người yêu nhau. Lục Bát Yên là một cuối đường khuất bóng. Lục Bát Yên là tình yêu cuồng điên thơm mùi gối chăn da thịt. Một thứ tình yêu nhỏ máu chứ không nhỏ lệ. Lục Bát Yên là ân tình được ném ra từ một bàn tay, mất hút biệt tăm trong vô cùng vô tận”.
 
Hoàng Thị Bích Ti viết truyện dài Biển Lụa (Văn Mới, 2007) về các phụ nữ Việt Nam bị đưa ra xứ người bán thân dưới nhiều hình thức, kèm nhiều phụ bản và tài liệu về bi kịch này.
 
Thu Thuyền (12-1958, Sài Gòn – ) xuất bản Những Nhánh Sông Mất Biển (Văn Mới, 2004) gồm 23 truyện ngắn và bút ký “Hoàng Anh Tuấn, thân phụ tôi”.
 
Tiêu Nương có tập truyện ngắn Đổi Vợ (Nhân Trí, 1995) hấp dẫn người đọc nhờ phân tích tâm lý.
 
Trần Kim Vy (Trần Võ Kim Huê, 1952-) có các tập truyện Còn Vương Chút Nắng (1993), Cù Lao Hạnh Phúc 1997), và 2 truyện dài Lỡ Một Chuyến Đi (TGXB, 1988), Sóng Ngầm (1991), tập thơ Người Yêu Dấu (1994) và gần nhất là “truyện dài ký sự” Về Thăm Xứ Phật (2002) tất cả đều cùng nhà xuất bản Hương Văn ở Houston TX.
 
Anh Vân tái bản tập Trái Đắng gồm 11 truyện ngắn về xã hội đang sống.
 
Ái Khanh (Đỗ Lê Ann, 1949 – 15-10-2008, FL) sau tập truyện Một Thời Để Nhớ (1994) là tập Hình Như Là Tình Yêu (1997) và tuyển tập Truyện Ngắn Ái Khanh (Orlando FL: TGXB, 2006) trước khi mất vì bệnh. Truyện bà đa dạng đề tài, từ những chuyện vượt biển, tị nạn đến những vùng đất tị nạn và hội nhập, từ những chuyện tình chớm nở đến những đa đoan của cuộc sống trên đất người.
 
Nguyễn Thị Hồng Diệp có truyện dài Trời Chưa Cho Nghỉ (2000), tuyển tập Sỏi Đá Bên Đường (2005) và tập tạp bút 30 Năm Nhìn Lại (CA, 2007). Bà viết để trực thoại với người khác, với độc giả, để trao đổi kinh nghiệm sống, với cách nhìn đời nhẹ nhàng và giọng văn dí dỏm.
 
Truyện Nguyễn Thị Thanh Dương (Nguyễn Thị Thanh, 12-9-1951 – ) xuất hiện trên các báo như Trẻ, sau xuất bản như Đường Dài Thăm Thẳm (2007), các tập thơ Một Thời Tương Tư (2007), Hồn Tôi Chuông Gió (TGXB, 2015).
 
Linh Vang chủ bút các tạp chíKỷ Nguyên Mới, Văn Hữu (2009-2019), và thời này đã xuất bản các tập truyện: Bến Hạnh Phúc (2011); Sau Cơn Mưa (2012); Nhẹ Như Tơ Trời (2015). Truyện của LV thường là chuyện trái ngang nhưng sau những cơn mưa trời lại sáng hơn, như trong Sau Cơn Mưa:
 
“… Chúng tôi lấy nhau như hai kẻ cô đơn cần có nhau. Để rồi cùng chịu một hôn nhân không có hạnh phúc. Hình ảnh Tưởng Dung cứ lởn vởn trong tâm trí chàng và tâm trí tôi. Chàng còn yêu Tưởng Dung và lấy tôi chỉ là muốn điền vào chỗ trống vắng. Biết vậy, tôi càng lồng lộn gây gổ với chàng. Những giọt nước mắt của tôi chỉ làm cho chàng thêm khó chịu. Lấy cớ chiến trường sôi bỏng, đất nước đang cần chàng, chàng ít về nhà để khỏi phải thấy mặt tôi! Năm năm ăn ở với nhau, không có con. Rồi 75, Cộng Sản vào. Chàng đi cải tạo.  (…)
 
“Tưởng Dung qua Mỹ năm 75, trước tôi 19 năm, dĩ nhiên là Dung hơn tôi mọi mặt. Dung nói rành tiếng Mỹ, biết lái xe đi đây đi đó, có công ăn việc làm tốt, ở nhà sang trọng cả mấy trăm ngàn tiền đô. Tôi tự so sánh và rồi thấy tủi thân. Lại nữa, Tưởng Dung trẻ đẹp hơn tôi nhiều nhờ những năm tháng sống sung sướng, không phải lo chuyện cơm gạo từng bữa. Nó ăn mặc áo quần đẹp, xài nước hoa thơm phưng phức, da dẻ mát mẻ căng tròn. Tôi chỉ là một mụ mán mường! Nó đang tung tiền để phá hoại hạnh phúc của tôi. Còn về tình cảm, hồi trước Huy yêu Dung, lấy tôi rồi 5 năm sau chàng vẫn còn thương nhớ Dung, đời sống hai chúng tôi chỉ mới hạnh phúc sau khi chàng đi cải tạo về. Những ngỡ chàng mãi mãi là của tôi. Ít nhất qua cử chỉ chàng đối xử với tôi. Nếu so về vật chất, dĩ nhiên là tôi thua rồi nếu chàng phải chọn lựa. Dung ly dị chồng, tình cảm không còn bị ràng buộc, dễ quá mà, ai cấm cản ngọn lửa xưa bồng phát trở lại, và tình cũ không rủ cũng tới. 
 
Tưởng Dung sang Mỹ trước 19 năm, nay ly dị, muốn dành Huy với Lan, ngỏ ý mua nhà cho Lan rồi… nhường Huy cho bà. Nhưng Huy biết ơn và yêu vợ hơn Dung, họ quyết định dọn đi xa: “Chúng tôi đã ăn được trái cây ngọt từ cây trái do chính chúng tôi trồng và vun bón. Tôi tin tưởng sau cơn mưa cây cối sẽ xanh tươi hơn, đẹp đẽ hơn. Các con của chúng tôi sẽ có cơ hội ăn học thành tài, một đời sống sáng sủa, sung sướng, no ấm ở xứ này. Chợt nghĩ tới Tưởng Dung, tôi thấy con đường nó đi cô đơn quá. Không chồng đã đành, nó cũng không có con – hai đứa con sống theo kiểu Mỹ cũng đã bỏ mẹ. Nhưng tôi sẽ không thương hại cho nó, con người không tự mình bỏ công săn sóc cây thì không nên đòi hưởng trái ngọt”.
 
Hải Phong (Nguyễn Lệ Châu) ở Canada, bắt đầu với tuyển thơ văn Vùng Yêu Đương in chung với Nguyễn Hải Bình năm 1981, sẽ tiếp với các tập truyện Chị Yêu, Ngập Ngừng Gió Nhắn Cùng Cây, Mầu Lá và truyện dài Sau Cơn Mưa, cũng như một số truyện dịch.
 
Ở Pháp, Trần Thị Diệu Tâm xuất bản Phía Bên Kia Mặt Trăng (15 truyện ngắn, Văn Mới, 2001), Cầu Pont-Neuf (Văn Mới, 2008), Người Về (Paris: Nam Á, 1992), Rong Biển (TGXB, 1997), … Văn giản dị, nội-dung nhẹ nhàng, người và đất Thần kinh thoáng hiện thoáng mất trong đời sống hiện nay ở xứ người,… truyện dài Rong Biển chuyện thận phận làm người và tình yêu qua hận thù, chiến tranh, dòng đời lưu lạc, qua tuyệt vọng và hy vọng, của nhiều thế hệ. 7 truyện ngắn khác in cùng tập. Những kết thúc đi lên: tình với tha nhân, cái đẹp tinh thần, v.v. Đôi khi một số tổng quát hóa theo ước lệ quen chung khiến nhân vật và câu chuyện bớt đặc sắc và những diễn biến lịch sử đơn sơ.
 
Truyện ngắn Sợi Tóc (PBKMT) đặc biệt về thân phận và tình cảm của 2 người phụ nữ, bà Nguyễn và một người quen được gọi là ‘chị ta’, ‘chị hàng xóm’: dưới mắt bà Nguyễn người thấm được giá trị xứ người nên xem thường ‘chị ta’, nhưng không ngờ sau khi chồng bà Nguyễn mất, bà mới khám phá ra ‘chị ta’ đã ăn nằm với chồng mình, để lại “một sợi tóc dài đen bóng dính vào lớp vài [áo gối]… Bà run rẩy, sợ hãi nghĩ đến người đàn bà ‘quê mùa’ đã nằm trên giường này với chồng mình” (tr. ??). Người Về là truyện ngắn dưới hình thức những lá thư từ Huế, thành phố HCM và Paris, San Jose về những thăng trầm của nhân vật cũng là của các gia đình và đất nước sau ngày 30-4-1975. Những ‘người về’ là kẻ tập kết và con trai là người tù ‘cải tạo’,… nhìn thấy và nhận chân về những biến hoá, tang thương đã và đang diễn ra. Truyện dài Rong Biển chuyện thận phận làm người và tình yêu qua hận thù, chiến tranh, dòng đời lưu lạc, qua tuyệt vọng và hy vọng, của nhiều thế hệ. 7 truyện ngắn khác in cùng tập. Những kết thúc đi lên: tình với tha nhân, cái đẹp tinh thần, vv. Hai điểm yếu: một số tổng quát hoá  theo ước lệ quen chung khiến nhân vật và câu chuyện bớt đặc sắc  và những diễn biến lịch sử đơn sơ. Bà phụ trách Lá Thư Ba-Lê cho báo Văn Nghệ Tiền Phong. Tập “tạp văn” Những Mẩu Chuyện Đời (Văn Học Press, 202?),…
 
Phan Thị Trọng Tuyến có tập truyện Hồng Đăng tại Amsterdam do Văn Học Press xuất bản tại Quận Cam CA năm 2018.
 
Cùng năm, Đặng Mai Lan xuất hiện trở lại với tạp văn Người Lạ, Người Quen (Văn Học Press, 2018).
 
Trang Thanh Trúc từ nhạc sang lãnh vực văn-chương với tập truyện 7 Nốt Trên Khuông Nhạc (2008).
 
Ở Đức, Vinh Lan (Đỗ Thanh Vân, 22-10-1939 – 25-3-2014, Đức), một nhà văn từng bắt đầu nghiệp văn sớm, viết cho các báo Tầm Nguyên, Vui Sống, Mai, Tiếng Chuông và Tin Sớm trước 1965, đi du học và sinh sống ở ngoài nước, sau này sinh hoạt văn học trở lại và đã xuất bản 3 tập truyện Nỗi Sợ và Niềm Hy Vọng (Đức: 2006), Hương Quỳnh (2007) và Thì Thầm (2009; phần Hình Bóng Cũ). Với các bút ký và nhận định văn học (đồng biên tập các trang mạng Hồ Biểu Chánh, Bình-Nguyên Lộc), Vinh Lan đã góp phần đáng trân trọng cho văn học sử miền Nam.
 
Bùi Bích Hà sinh ngày 12-1-1938 tại Huế, định cư tại Hoa Kỳ năm 1986 và mất ngày 14-7-2021 tại Orange CA. Giáo chức trước 1975, nhà văn và nhà báo – bút hiệu Thái Hà, bà từng phụ trách chương trình “Tâm Tình Với Thái Hà” trên đài Little Saigon Radio, chủ nhiệm kiêm chủ bút nguyệt san Phụ Nữ Gia Đình (2002 – 2014). Đã xuất bản: Buổi Sáng Một Mình (Người Việt, 1989), Bạn Gái Nhỏ To” (Người Việt 1991), Hạnh Phúc Có Thật (Văn Mới, 2001), Phương Trời Khác (Cảo Thơm, 2002), và Đèn Khuya 1, 2 (Người Việt, 2018).
 
Phạm Thị  Quang Ninh cũng viết báo và tập hợp các bài viết những năm 2000-2005 về phụ nữ và các vấn nạn xã hội in với tựa Đời Sống Gần Trong Xã Hội Xa (Việt Đạo, 2005).
 
Nguyễn Phan Ngọc An: Lửa Màu Xanh, truyện ngắn 2013; Ru thầm Tiếng gọi VN 2013 thơ; Những Đoá Hoa Tim, Nhân Ảnh 2017 – thơ và thi pháp Vũ Hối.
 
Hoàng Nga xuất bản trong giai đoạn này Tình Yêu (Làng Văn, 2001), Ừ Thôi Kiếp Sau Em Nhỏ (Làng Văn), Đêm Trăng (Văn Mới), Giòng Đời (Hướng Đi), Kẻ Không Chiến Tuyến (2017), Cõi Lạ (Nhân Ảnh, 2023).
Trần Mộng Tú có Vườn Măng Cụt (‘truyện ngắn và tản văn’, Văn Mới, 2009);
 
Huệ Thu có Khúc Ca Quy Ẩn 2005, Lục Bát Huệ Thu và Thơ Hai Câu (Nhân Ảnh, 2023).
 
Nguyễn Thị Khánh Minh tác giả 6 tập thơ và 2 ấn phấm khác trước khi định cư tại California năm 2006, đã xuất bản các tập thơ Hoa Mùa Cổ Tích (TGXB, 2012); Ký Ức Của Bóng (Phố Văn; Sống, 2013) và tản văn Bóng Bay Gió Ơi (Sống & Chương Chương, 2015). Nhà thơ sáng tác mạnh và sau đó tiếp tục xuất bản các tuyển tập khác. Thơ Nguyễn Thị Khánh Minh là tiếng lòng, là suy tư và âm vang của thời gian và không gian. Thời gian cùng quá vãng trở về qua giọng vọng về, qua ảnh tượng đọng lại đây, hôm nay.
 
Nguyễn Thị Ngọc Dung có thêm tập truyện ngắn Một Thoáng Mây Bay (Cỏ Thơm, 2001 và bút ký Non Nước Đá Vàng (Cỏ Thơm, 2007).
 
Hương Giang (Ngô Thị Mai Hương) có hợp tuyến tâm bút và thi văn Ngày Bão Loạn (San Jose CA: Cội Nguồn, 2011).
 
Du Yên có tập truyện vừa mang tính hồi ký và văn học Tiếng Nước Tôi (Tiền Lê, 2009).
 
Thể loại bút ký, hồi ký
 
Vàng, Máu Và Nước Mắt: Khảo Sát Về Tù Cải Tạo và Vượt Biên Trong Giới Y Sĩ (Montreal, QC: Tập San Y Sĩ, 2000) “trình bày kinh nghiệm nước mắt và máu trong vụ tù cải tạo và vượt biên của tập thể y sĩ chỉ góp một phần nhỏ vào việc tìm hiểu những nổi đau thương chung của dân-tộc“ (Lời đầu: Trả công bằng lại cho trí nhớ).
 
Nguyễn Công Trứ (5-15-1944 – ) viết Vượt Qua Gian Khổ, “hồi ký của một quân y sĩ trong trại tập trung cộng sản” (Nam Việt, 2014. 226 tr.) kể lại đời mình từ sinh quán Đà Lạt, học Y khoa SG, nhập ngũ Trung Úy Quân Y rồi bị tù “cải tạo”, vượt biên và làm lại cuộc đời trên đất Mỹ.
 
Phan Lạc Phúc (1928, Sơn Tây – 28-4-2016, Úc) tức Ký giả Lô-Răng sau tập “bút ký chiến tranh” Bè Bạn Gần Xa (Tủ sách Kẻ Nủa; Văn Nghệ, 2000) là Tuyển Tập Tạp Ghi (Văn Nghệ, 2003). Tuyển Tập Tạp Ghi cũng như Bè Bạn Gần Xa là những ghi nhận đậm đà hình ảnh quê hương và kỷ niệm bạn bè. Tuy là những ghi nhận riêng tư, nhưng, tác giả đã khéo đánh động làm sống lại cảm xúc của rất nhiều người đọc, thấy được, gặp được các nhân vật, sống trong các giai đoạn vừa qua. Bạn ông là các nhân vật tăm tiếng trong giới văn nghệ, làm báo, làm văn, những người tù kiệt xuất, những nhà tu có lòng đại lượng. Ông vẽ lại được các thảm kịch, bên cạnh những niềm vui. Ký giả Lô-Răng Phan Lạc Phúc là cha đẻ của thể loại Tạp Ghi – trên nhật báo Tiền Tuyến.
 
Vĩnh Nhơn (Lâm Vĩnh Thế) có tập Đakao Trong Tâm Tưởng (Hamilton, Ont.: Hoài Việt, 2008) hồi ức về Đakao, một phu phố khá đặc thù ở Sài-Gòn, những con đường, những góc phố, những ngôi chùa, đình, và nếp sống một thời nay không còn nữa. Ông còn là tác giả các hồi ức Tròn Nhiệm Vụ (2020) về cuộc đời chuyên nghiệp thư viện, Trường Petrus Ký Trong Tâm Tưởng (2021) về ngôi trường thời Trung Học, cũng như Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà – Một Quân Đội Anh Hùng Bị Bức Tử (2021).
 
Nhật Tiến trong hai năm 2012 và 2013 đánh dấu sinh hoạt đáng kể về xuất bản và tái bản của nhà văn, mới thì có tuyển tập 8 truyện và 2 vở kịch với tựa Mưa Xuân (Garden Grove CA: Huyền Trân, 2013), hồi ký Nhà Giáo, Một Thời Nhếch Nhác (2012) về thời-gian dạy học dưới chế độ cộng-sản ở miền Nam và 3 tuyển tập Hành Trình Chữ Nghĩa gồm những bài viết về sự nghiệp cũng như về thời sinh hoạt văn nghệ hài hoà ở hải ngoại bên cạnh những thị phi, xuyên tạc ác ý.
 
Trong Nhà Giáo Một Thời Nhếch Nhác, với tư cách nhà giáo, ông đã ghi chép những điều mắt thấy tai nghe và môi trường giáo dục thời xã-hội chủ nghĩa sau 1975, độc giả sẽ thấy “những cơn mê sảng, ấu trĩ, thiển cận và hẹp hòi của chính quyền mới trong mọi vấn đề của xã hội, đặc biệt là chính sách giáo dục làm biến dạng những nhận thức trong sáng đầu đời của tuổi trẻ, gây nên sự phá sản tinh thần của những nền tảng xã-hội“.
 
Ngoài ra, Hiếu Đệ với Lưu Xứ U Minh (Paris: Hương Cau, 2006), một hồi ký cô đọng qua hình thức bút ký, về đoạn trường mà ông đã trãi qua. Hiếu Đệ đã ngồi tù cộng sản 11 năm tại các trại tập trung cải tạo Gia Trung và Hàm Tân (1976-87) và sau đó bị lưu đày lao động ở vùng U Minh.
 
Cựu ký giả Văn Bia có tập hồi ký Một Đời Phóng Viên Và Những Ngày Bên Ngô Đình Diệm được tái bản nhiều lần ở hải ngoại (Boston: Lê Hồng, 2001; tb 10: Nhân Ảnh 2020; Tựa của Nguyễn Vy Khanh) và trong nước sau đó.
 
Huỳnh Văn Lang đã xuất bản một số hồi ký, chuyên đề như Cờ Bạc, Đá Cá Chọi Gà Đánh Phé Chơi Dà dách (TGXB, 1998),Chuyện Đường Rừng, Một Chương Hồi Ký (1999), hoặc hồi ký chính trị như Nhân Chứng một Chế Độ (TGXB, 1999-2000) gồm 3 tập khoảng 1500 trang, về thời Đệ Nhất và Đệ Nhị Cộng Hoà, và bộ hồi ký Ký Ức Huỳnh Văn Lang (2011-2012) đã ra được hai tập về “82 năm của một đời người” qua các Thời kỳ thuộc Pháp, Thời kỳ Việt Nam độc lập, và Thời kỳ lưu  vong (tập 3 chưa xuất bản), qua các hoạt động và công trình đã làm được hoặc để lại. Bên cạnh đó ông viết biên khảo lịch sử với Công Chúa Sứ Giả (2004) về những Công chúa thời lịch triều như Công chúa Huyền Trân, Công chúa Ngọc Vạn, … được gả đi cho các nước lân bang vì mục đích chính trị, Việt Sử Khai Tâm (2004) vì “có những sự kiện lịch sử cần phải xem lại” và Đã Hơn 30 Năm Rồi! (2006) là du ký và những điều suy nghĩ và mắt thấy tai nghe về đất nước, quê hương và tổ tiên của gia đình.
 
Cựu Luật sư Lê Nguyên Phu, hiệu Mai Thạch, viết Trong Bóng Tối Lịch Sử (“Khảo luận về Ngô Đình Diệm”; TGXB, 2008. 508 tr.) hồi ký về cuộc đời thẩm phán, dạy học, công tố Tòa án quân sự và Đại Tá Giám Đốc Nha Hiến Binh VNCH, tiết lộ nhiều bí ẩn về Đệ Nhất Cộng Hoà như vụ án đảo chánh 11-11-1960 trong đó ông Nguyễn Tường Tam là nghi can nhưng đã quyên sinh trước ngày được triệu tập để thẩm vấn.
 
Ca Sĩ Quỳnh Giao (1946, Huế – 23-7-2014) vào những năm cuối đời phụ trách mục Tạp Ghi trên nhật báo Người Việt, sau xuất bản cùng tựa Tạp Ghi Quỳnh Giao (Người Việt, 2011).
 
Vann Phan (Saroyan Vann Phan) của nhóm nhật báo Người Việt xuất bản tập truyện Nằm Trong Cơn Gió Vô Tình (Minnesota Tinh Hoa, 2001). Ông còn là dịch giả Hoả Lò – Hanoi Hilton Stories (2007) của Nguyễn Chí Thiện chung với Nguyễn Ngọc Bích và Trần Văn Điền,…
 
Trần Văn Chi hiệu Nam Sơn, có tập bút ký Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư vì “muốn trang trải nỗi lòng của một người học trò Quốc Văn Giáo Khoa Thư”, v.v. Và Tìm Hiểu Cải Lương tâm tình người Lục Tỉnh: bút khảo (Văn Mới, 2005), …  Triều Nguyễn và Công Cuộc Mở Đất Phương Nam,  Hương Vị Ngày Xưa và Món Ngon Miền Nam.
 
Tiền Vĩnh Lạc “viết theo nhớ đâu, nói đó” tập Làng Cũ Người Xưa (Fairfield NSW, Úc: Tiền Lê, 2004, tb 2009) – và sau này viết thêm Tìm Hiểu Tiếng Việt, Chữ Việt của Chúng Ta (Tiền Lê, 2017) đôi lời “Xin Thưa Trước”: “Tôi ham đọc chữ Quốc ngữ ngay từ lúc bảy tuổi, được thầy dạy bộ sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư do các ông Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc và Đỗ Thận biên soạn. Tôi thích đọc đi, đọc lại cho đến nỗi thuộc lòng nhiều bài trong bộ sách đó. Hơn bảy mươi năm sau, tôi vẫn thấy rằng những sách tập đọc xuất bản sau đó, về nội dung giáo dục và đào luyện nhân cách, không có cuốn nào có thể so sánh với bộ Quốc Văn Giáo Khoa Thư này. Nhiều ông bạn cùng trang lứa cũng đồng ý với tôi. Từ lớp Sơ Đẳng Tiểu Học tôi bắt đầu được học Pháp văn, đọc tạm được, nhưng chẳng hiểu được bao nhiêu. Lên đến lớp Nhứt (Cours Supérieur) tôi đọc được một số tiểu thuyết phổ thông như Sans Famille, En Famille của Hector Malot, Les Misérables của Victor Hugo, Le Petit Chose, Lettres de mon Moulin của Alphonse Daudet, v.v… Chừng đó tôi mới để ý, so sánh những khác biệt giữa tiếng Việt và tiếng Pháp về phương diện phát âm, từ ngữ và văn phạm.
 
Tôi cũng thích tham khảo các tác phẩm của những học giả nghiên cứu tiếng Việt, chữ Việt. … Qua các tác phẩm đó tôi học được nhiều điều thú vị và bổ ích về tiếng Việt, đồng thời tôi cũng tự tìm hiểu thêm những điểm tôi còn thắc mắc.
 
Soạn tập sách nhỏ này, tôi không có cao vọng thực hiện một tác phẩm nghiên cứu sâu rộng như các bậc tiền bối đã làm, mà chỉ “tìm hiểu” và xin ghi lại một vài nhận xét cá nhân về tiếng Việt của chúng ta, gọi là để bàn bạc với các thân hữu và những người yêu tiếng Việt.
 
Tôi ước mong tập sách nhỏ này giúp ích phần nào cho các em học sinh, nhứt là các em đang sống và học hành ở nước ngoài, đồng thời góp ý với các bạn yêu tiếng mẹ đẻ đang quan tâm đến việc hoàn thiện sự trong sáng và phong phú của tiếng Việt….” (tr. 15, 16)
 
Trần Công Hàm bút hiệu Anh Thái Phương Mặc Nhiên (1941, Cao Bằng -), có hai tập hồi ký Trăm Núi Ngàn Sông Quyển 1-Quê Nhà và Quyển 2-Quê Người (Gretna LA: Đường Việt Hải Ngoại, 2003-2004), ghi lại “hành trình đi và sống của một cựu cán bộ hành chánh Việt Nam Cộng Hòa”- ông tốt nghiệp Quốc gia Hành chánh năm 1962, viết về cuộc đời trước ở quê nhà và sau 1975 ở quê người.
 
Nguyễn Thanh Nga năm 2007 đã xuất bản Đóa Hồng Gai: hồi ký của một nữ cựu tù nhân chính trị. Tác giả được gọi là Tù bất khuất, là Điệp viên, là Thiếu Úy của Chương Trình Phụng Hoàng (1971-74), là Công chức Tòa Hành Chánh Đà Nẵng, là người Phục Quốc – tình báo cho Phục Quốc Hoàng Cơ Minh, chi nhánh Lm. Trần Học Hiệu.
 
Các Hồi Ký đáng kể có: Lê Xuân Khoa. Việt Nam (1945-1995): chiến tranh, tị nạn, và bài học lịch sử. Tập 1. Bethesda MD: Tiên Rồng, 2004; khi tái bản lần thứ ba – do Người Việt Books 2006, đổi tựa là Việt Nam 1945-1990, Bốn cuộc chiến tranh và Bài học lịch sử). Tác-giả viết vì muốn đáp ứng nhu cầu phải học bài học lịch-sử và đi tìm sự thực về những biến cố đã xẩy ra trên đất nước từ năm 1945.
 
Nguyễn Tường Thiết có Nhất Linh, Cha Tôi (Gardena CA: Văn Mới. 2006) – là con trai út của văn hào. Tháng 6-2020, 14 năm sau, ông cho tái bản Nhất Linh, Cha Tôi (NXB Phụ nữ, Phanbook. 290 tr.) và ra mắt sách ở Việt Nam. Ông phổ biến tiếp phần hồi ký ngắn in chung với các truyện ngắn trong Căn Nhà An Đông Của Mẹ Tôi (Văn Mới, 2012). Các hồi ức chung chung về gia đình nhất là thân sinh ông; hình bóng, dư luận cùng những người viết tốt về Nhất Linh.
 
Bà Nguyễn Tường Nhung, trưởng nữ nhà văn Thạch Lam trong Tự Lực Văn Đoàn, xuất bản Tháng Ngày Qua (Thạch Ngữ, 2021) hồi ức về nhà văn Thạch Lam thuở sanh tiền, và chồng bà, Trung Tướng Ngô Quang Trưởng.
 
Phan Nhật Nam viết Những Cột Trụ Chống Giữ Quê Hương (2003), một “ký sự nhân vật” về các tướng Ngô Quang Trưởng, Lê Minh Đảo, các bạn tù, chiến hữu (Nguyễn Hữu Luyện, v.v.); đồng thời là một cố gắng vẽ lại, đánh giá lại những trận đánh ở nhiều địa danh khác nhau. Phận Người Vận Nước (2013) gồm các bài viết “tường trình về quá trình Sống/Chiến Đấu/Và Chết theo cùng mệnh nước nổi trôi của nhiều thế hệ người Việt trong giai đoạn khốc liệt”.
 
Nguyễn Thanh Ty (1942, Khánh Hoà -) sau nhiều năm tù “cải tạo”, định cư tại Boston MA từ năm 1991, đã xuất bản Trại Đá Bàn & A30 (Nam Việt, 2005) hồi ký về lao tù “cải tạo” của cộng sản ở miền Trung. Cùng năm 2005, ông tái bản Dư Âm Ngày Cũ tập đầu (Boston MA: TGXB) và ra thêm tập 2, tiểu tựa Ngải Hời (Nam Việt) gồm những truyện ngắn và tạp bút về vùng đất và con người nơi quê hương Khánh Hoà của ông. Trước đó, năm 2004, ông đã in Về Một Quãng Đời Trịnh Công Sơn, “minh chứng về một vụ đánh cắp tư liệu văn học”.
 
Đỗ Văn Phúc (1946, Quảng Trị – ) có hồi ký và tạp bút Một Thời Áo Trận  (2010) bên cạnh các tập Cuối Tầng Địa Ngục (2008) và Nanh Hùm Nọc Rắn (2009).
 
Trà Nguyễn (Trà Văn Gởi, 1942-) có Hồi Ký Vượt Ngục (San Jose CA: Tuần Báo Chánh Đạo, 2003). Tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm và bị động viên, sau đó về dạy học với tư cách giáo chức biệt phái ở các trường Trung Học. Sau 1975, ông bị tù nhiều lần, hồi ký là chính những đoạn trường gian khổ mà một người tù trong chế độ bạo tàn của CSVN đã bị đối xử tàn tệ như thế nào. Trà Nguyễn chính là một trong muôn nghìn nhân chứng sống của chế độ tù ngục tàn bạo, mất nhân tính; trại giam không chỉ là ngục tù Cộng Sản Việt Nam mà cả đất nước Việt Nam cũng là một nhà tù bao la.
 
Lm. Phan Phát Huồn (5-10-1926 Thừa Thiên – 16-10-2015, California) thuộc Dòng Chúa Cứu Thế, Trung Tá Phó Giám Đốc Nha Tuyên Úy Công Giáo QL/Việt Nam Cộng Hòa. Sau biến cố 30-4-1975, ông bị 13 năm tù “học tập cải tạo”, năm 1992 sang Hoa Kỳ theo diện H.O., chủ bút nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp xuất bản tại Long Beach, California. Ông đã xuất bản cuốn hồi ký AK và Thập Giá, ai thắng ai? (DCCT, 1994. 304 tr.) viết về cuộc sống của Cha và đồng tù suốt 13 năm trường trong 7 “trại cải tạo” từ Nam ra Bắc, năm 2001 tái bản lần thứ 5 bộ Việt Nam Giáo Sử gồm 3 tập với những bổ sung của 30 năm nghiên cứu (các tập đầu Cứu Thế Tùng Thư ở Sài Gòn xuất bản từ năm 1958), bản dịch tiếng Anh History of the Catholic Church in Vietnam cũng đã được xuất bản.
 
Tập hồi ký AK và Thập Giá, ai thắng ai? ghi lại những thống khổ vượt mức chịu đựng của con người; với người linh mục và là tuyên úy quân đội, khổ nạn càng nặng gánh hơn. Những cuộc đấu lý, sửa lưng cán bộ nói dóc, nói mà không biết nói gì, cho ai. Và trong hoàn cảnh tù tội không được đối xử theo công ước quốc tế, người tù sợ nhất khi bị bệnh. Lm. Phan Phát Huồn viết về cái gọi là “bệnh xá”: “Nói là bệnh xá để nghe cho xôm trò chứ nơi đây chỉ là một nhà thường có sạp nằm cho bệnh nhân. Lúc tôi đến đây thì đã có 20 trại viên đang trị bệnh tại đây. Người tôi bị tê liệt toàn thân do đó những việc vệ sinh cá nhân tôi không làm được, tôi phải nhờ sự giúp đỡ của hai bệnh nhân nằm hai bên tôi, hai bệnh nhân này không cùng một trại với tôi. Một hôm cán bộ bác sĩ đến tận giường tôi đọc lệnh mà nội dung như sau:
 
– Anh Phan Phát Huồn, anh là một tên có nợ máu với nhân dân nhưng Đảng và nhà nước ta đã tha tội chết cho anh, anh đau ốm vẫn cho anh nằm ở bệnh xá điều trị, vậy mà anh không biết điều, vi phạm nội quy của bệnh xá bằng cách quan hệ với người khác trại, vậy ngay từ giờ phút này anh phải ra khỏi bệnh xá.
 
(…) Nói xong ông ta ra lệnh cho y công buộc dây thừng vào hai chân tôi và kéo tôi như một con chó ra khỏi bệnh xá …”.
 
“Tại bệnh xá tôi đã nghe nói và chứng kiến những cuộc ”căng mùng” ghê rợn. Lúc người ta nói đến “căng mùng” là người ta nói đến giải phẫu. Để tránh ruồi muỗi bu vào đang lúc giải phẫu, bệnh nhân được đưa vào trong mùng, vì không có thuốc mê nên người ta buộc bệnh nhân vào giường, lại còn có các anh hộ lý đè bệnh nhân xuống để bệnh nhân khỏi vùng vẫy lúc quá đau đớn, thường bác sĩ dùng dao cạo râu để giải phẫu, bệnh nhân gào thét kêu la thảm thiết, tôi có cảm tưởng là một con lợn đang bị thọc huyết” (AK và Thập Giá, tr. 131, 133).
 
Cũng Tuyên Úy (Đại Tá, Tổng Giám Đốc Nha Tuyên Úy Toàn Quốc) và cùng Dòng Chúa Cứu Thế với Lm. Phan Phát Huồn, Lm. Đinh Ngọc Quế tác giả hồi ký Một Linh Mục Trong Tù Cộng Sản (1998. 424 tr.) viết về 13 năm tù trong “trại học tập”, 5 năm tù ngoài trại và 5 năm sinh sống tại Hoa Kỳ, những cảnh “lao động khổ sai vinh quang”, “Thánh lễ chui giữa vườn hoa cải củ”, tất cả “dù khi ăn, dù khi uống, dù khi… ở tù cũng phải làm cho sáng danh Chúa”. Sách được Trần Văn Điền phiên dịch ra Anh-ngữ, Memoirs of a Priest Imprisoned in the Communist Reeducation Camps 1975-1988 (2000). Lm. Quế sinh ngày 28-8-1926 tại Bùi Chu, Bắc Việt, sang Mỹ theo diện H.O. tháng 1-1993 và mất ngày 2-7-2021.
 
Các hồi ký ít nhiều gây phán ứng gồm Tôi Phải Sống (2003) của linh mục Nguyễn Hữu Lễ, Lớn Lên Với Đất Nước của Vy Thanh (2006) và 2 tập Hồi Ký (Người Việt Books, 2009-2011) của Võ Long Triều.
 
Linh mục Nguyễn Hữu Lễ thuộc một giáo xứ ở Tân Tây Lan nhưng xuất bản Tôi Phải Sống tại Hoa Kỳ và được tái bản nhiều lần sau đó cùng được dịch ra Anh-ngữ I Must Live (2024). Tập hồi ký Tôi Phải Sống! là một tác phẩm nhân bản, sách dày hơn 650 trang. Đây là một công trình 10 năm của tác giả, đã không phải chỉ được viết bằng óc, bằng tim, mà bằng chính mạng sống, chính kinh nghiệm khốn khổ của ông. Với tác phẩm này, tác giả đã kể lại con đường tìm ra lẽ sống của ông. Thật vậy, khi đã ở tận Đáy Địa Ngục mà còn bị dồn bức trực diện với cái chết phi lý, với con người mất nhân tính, linh mục Nguyễn Hữu Lễ đã hét lên ba đợt ba tiếng “Tôi Phải Sống… Tôi Phải Sống… Tôi Phải Sống…” (tr. 442), rồi sau đó là hơn 15 năm vừa suy nghĩ vừa vận động tranh đấu cho con người được sống và được lên tiếng!
 
Cuốn hồi ký được viết ra để tố cáo chế độ tù cải tạo của cộng sản Hà Nội đồng thời vạch mặt những kẻ đồng tù hai lòng làm tay sai và đàn áp với đủ thứ bạo lực bất nhân tàn bạo đến gây nên cái chết của nhiều đồng tù. Ông đã hơn một lần khẳng định rằng “Không bao giờ oán trách con người, không bao giờ thù hận con người, không bao giờ tiêu diệt con người, nhưng phải bằng mọi cách loại bỏ bất cứ chế độ xấu xa nào đã khuyến khích và dung dưỡng sự hận thù giữa người với người, và thay vào đó một xã hội lành mạnh để con người được phát triển phần Lương Thiện của mình” (tr. 598). “Không một chế độ nào dùng họng súng và nhà tù để cai trị mà vững bền được, chỉ có lòng nhân mới cảm hoá con người“.
 
Về phương diện văn học, Tôi Phải Sống là một tác phẩm đặc biệt, rất “miệt vườn” nhất là ở phần ký ức tác giả viết về thời thơ ấu. Chuyện cậu Đực Mẫm ngày xưa hay Cậu Bảy Nguyễn Hữu Lễ ngày nay đều có những nét rất đặc biệt miền Nam. Những chương hoặc đoạn viết về Phạm Ngọc Thảo, về giám mục Nguyễn Văn Sang, Nhà Chung Hà Nội, về con người Bùi Đình Thi, về Đường Lên Cổng Trời cũng như cuộc vượt ngục bi đát ở trại Thanh Cẩm theo thiển ý là những trình bày rất văn chương về kỹ thuật kể chuyện cũng như chữ dùng.
 
Hồi ký Lớn Lên Với Đất Nước của tác-giả Vy Thanh từ khi xuất bản năm 2006 đã gây tiếng vang vì khác với những hồi ký trước đó, tập này mang nhiều ý nghĩa đáng kể. Trước hết, Lớn Lên Với Đất Nước đã cung cấp chứng-giám của một người trong cuộc, với những dữ kiện nguyên sơ và sống động, sống thật, về tinh thần yêu nước của con người Nam bộ, về cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; nói lên những mặt trái, những âm mưu chưa hoặc ít được guồng máy và đảng cộng-sản Việt-Nam công bố. Trong hồi ký, Vy Thanh cũng đã vạch mặt thật một số người trí thức, sinh hoạt văn hóa miền Nam như Bùi Đức Tịnh, Phi Vân, v.v. Họ là những người có cái Tôi quá cao nên đã bị cộng sản miền Bắc sử dụng trong kháng chiến chống Pháp cũng như các MTGPMN, nằm vùng, nhị trùng, phản thùng, v.v… Trong vùng kháng chiến hoặc làm trí vận ở thành, ông đã nhàm chán nghe những luận điệu tuyên truyền, như “độc lập, tự do, dân chủ” ông đã nghĩ “Tôi thấy thương dân nước tôi quá. Họ chiến đấu với Pháp giành lại độc lập, tự do, đặng có cuộc sống hạnh phúc. Hạnh phúc đâu chẳng thấy, chỉ thấy bất hạnh ngay từ Tháng Tám năm xưa: Thằng chổng trôi lềnh bềnh trên sông, người bị bắn ở sân banh, đàn ông bị mổ bụng dồn trấu, bị cho mò tôm, bị bắn sau ót, đàn bà bị hiếp, chồng vắng đang đêm ngủ bị người có quyền có chức dỡ mùng chung đại vô, trẻ con đi coi hát cũng bị lựu đạn què giò, v.v… đủ cảnh!” (tr. 232). Rồi những màn ném đá giấu tay tàn sát dân lành không theo chúng nhưng gây hiểu lầm là Pháp giết (tr.100). Từ đó, ông ý thức rằng mình cũng chỉ là “một con chốt trên bàn cờ,” và bi đát là “chốt chỉ có đi tới không có bước lùi!” Nhưng ông cũng quyết định rằng ông sẽ không có ngày trở về chiến khu và “Bằng mọi cách, tôi sẽ không là quân cờ người trong trận thư hùng giữa họ và Tây” (tr. 288). Tinh thần ái quốc ở miền Nam đã được biểu lộ dưới nhiều hình thức: ái quốc cảm tính, lỗi thời, hiệp sĩ, nên bị lợi dụng; ái quốc khoáng đạt, do đó dễ rơi vào sai lầm, bị lợi dụng.
 
Vy Thanh là một trong những trường hợp ngoại lệ! Lớn Lên Với Đất Nước là một công cụ nghiên cứu và một kho tàng vô giá cho những nhà sưu khảo về lịch sử đã đành mà còn về văn hóa, địa lý, xã hội, tâm lý, canh nông – nói chung, về đời sống ‘miệt vườn’ của miền Tiền và Hậu Giang. Thật là thú vị những đoạn tác giả kể cặn kẽ chuyện đi bắt con Ba Khía để làm lương thực, về các loại cá, tôm, cua, cũng như cây trái, v.v. Đi câu cũng lắm công phu và đa dạng, nào câu cắm, câu giăng, câu nhấp, câu thả, v.v. Các tín ngưỡng bình dân của con người Nam kỳ lục tỉnh: Phật Giáo, Hoà Hảo, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, v.v. được tác giả giới thiệu sinh hoạt trong môi trường địa phương.
 
Võ Long Triều (25-3-1934, Bến Tre – 2-9-2016, Fresno CA) viết loạt hồi ký đăng nhật báo Người Việt (California) sau xuất-bản thành 2 tập Hồi Ký (Người Việt Books, tập 1: 2009, 470 tr.; tập 2: 2011). Hồi ký của ông lúc đăng báo đã có những phản ứng của người trong cuộc, ở trong và ngoài nước. Ông đã làm vai trò nhân chứng trung thực, không kiêng dè – dĩ nhiên với mục đích nói lên sự thật được chừng nào hay chừng đó và ở trong tư cách người Việt lưu vong từng có một số trách nhiệm thời chiến tranh! Trong Đôi Lời Tâm Sự đầu tập 1, ông viết: “… Mặc dù nhiều bạn bè và thân hữu thúc giục tôi phải viết hồi ký, nhưng tôi không viết, bởi vì Pascal hay đại văn hào nào đó, tôi không nhớ rõ, viết rằng: “Cái tôi là đáng ghét” (Le moi est haissable). Và cũng tại vì đã có rất nhiều người viết về cái tôi đáng ghét đó một cách quá đáng, làm tôi mang mặc cảm. Ngày nay viết lại chuyện dài của cuộc đời như kể chuyện vui cho bạn bè, nghe qua rồi bỏ, đừng cho đó là quan trọng, càng không nên xem là tài liệu lịch sử bởi vì đó chẳng qua là diễn biến bình thường của xã hội con người mà thôi. Nếu nội dung có đề cập đến cái tôi và nếu có những lời thật mất lòng thì xin cho tôi cáo lỗi. Tác giả hứa sẽ trình bày chân thật, ngay tình, không tô son, không che giấu, bởi vì tôi quan niệm: “Thị phi thành bại chuyển đầu không… Tôi cố gắng hết sức khách quan, nhưng khi tôi thu hình nó, ghi nhớ nó và diễn tả lại bằng ngôn ngữ của tôi thì điều mà tôi ghi lại với cảm xúc, lý giải của tôi lúc bây giờ dĩ nhiên không tránh được phần chủ quan (…) Những sự thật đã xảy ra trong một giai đoạn ngắn ngủi nào đó có liên quan đến đời tôi. Đa số các chứng nhân cùng thời, các bạn đồng liêu trong nội các chiến tranh, các Tướng lãnh và bạn bè thân hữu hãy còn sống…”.
 
Tập 2: Lời kính cáo cùng bạn đọc: “mang nhiều chi tiết về các sinh hoạt chính trị, các nhân vật lãnh đạo thời Đệ Nhị Cộng Hoà, và nhiều điều đến nay mới được tiết lộ. Đây là sưu tập có sửa chữa lại những bài đã đăng trên Nhật báo Người Việt trong hai năm 2006-2008, thêm với lời giới thiệu của Cựu Đại Sứ Bùi Diễm và nhà văn Trần Phong Vũ”.
 
Nhà báo Vũ Ánh có Thung Lũng Tử Thần, hồi ức của một người tù cải tạo (Người Việt Books, 2014, 272 tr. + phụ bản) xuất-bản 100 ngày sau khi ông mất, gồm 31 bài viết cho Sổ Tay Nhật báo Người Việt, từ tháng 7-2013 đến 21-2-2014. Ông cho biết “tôi vẫn nhấn mạnh rằng loạt bài này chỉ phản ảnh cách nhìn của riêng tôi về một giai đoạn lao tù đặc biệt sau ngày miền Nam Việt Nam thất trận. Tôi viết là viết cho thế hệ con cháu tôi và chia sẻ với thề hệ con cháu của những bạn đồng tù khác, chứ không phải là bản lên tiếng, lên án hay cáo trạng gì cả, và tôi không phản đối những cách nhìn khác” (tr. 9).
 
Mạc Thy Loan (1923, Cần Thơ -) có truyện dài pha bút ký đầu tay Phút Thứ 61 (TGXB, 2014) về một quãng đời của Phương, một sinh viên miền Nam, làm công cho một tàu đánh cá “quốc doanh” và một lần ra khơi đã cướp súng và buộc thủy thủ đoàn phải đưa tàu rời khỏi hải phận VN. Nhưng tới khi đến gần Mã Lai, Phương bị đoạt lại súng. Anh không chịu đầu hàng mà nhảy xuống biển và bơi vào bờ. Sau một thời gian ở trại tị nạn, cuối cùng, Phương được định cư tại Hoa Kỳ. Truyện xen những suy tư và khẳng định ý thức hệ quốc gia.
 
Phạm Vân Bằng có Hồi Ký Tình Yêu (2011).
 
Phạm Gia Đại năm 2011 xuất bản Những Người Tù Cuối Cùng, và năm 2024 thêm Người Muôn Năm Cũ – cả hai ghi “hồi ký”, là những kinh nghiệm trãi qua bằng máu và nước mắt của một tù nhân 17 năm trong ngục tù Cộng Sản, và cuộc sống ở hải ngoại khi còn được gặp gỡ đồng đội cũ và người cùng chí hướng.
 
Tạ Quang Hoàng có Chuyện Tù Kể Từ Trại Nam Hà (Nam Hà Tù Khúc; Nam Việt, 2008). Nam Hà là biểu tượng hệ thống lao tù của cộng sản. Là một ‘sản phẩm’ của thời Pháp thuộc, và được cộng sản Hà Nội tiếp tục sử dụng để giam giữ những người chống đối với chế độ thời CS từ năm 1954 và sau 1975 giam giữ Quân, Cán, Chính Việt Nam Cộng Hòa và là trại “cải tạo” cuối cùng ở miền Bắc đóng cửa (tháng 5-1988).
 
Nguyễn Huy Hùng (hiệu Khiết Châu), cựu Đại Tá, có Hồi Ức Tù Cải Tạo  (2000) về 13 năm tù sau 1975và hồi ký Duyên Nợ Truyền Tin (2005).
 
Giáo sư Vũ Quốc Thúc có hồi ký Thời Đại Của Tôi (Người Việt, 2010) gồm 2 tập 1-Nhìn lại 100 năm lịch sử và 2-Đời tôi trải qua thời biến.
 
Hà Thúc Ký có ‘hồi ký chính trị’ Sống Với Dân Tộc (Phương Nghi, 2009) về cuộc đời làm chính trị từ trong ra ngoài nước.
 
Các thập niên sau này đã xuất hiện những hồi ký, bút ký của một số cây viết trẻ, đã ghi lại hành trình vượt biên, thuyền nhân hoặc hành trình hội nhập với cộng đồng người Việt và bản xứ.
 
Madison Nguyễn xuất bản Việt Nam Đến Mỹ – Hành Trình Mơ Ước (2012; bản Anh ngữ: Vietnam to America – My Journey of Dreams) ghi lại chuyện hội nhập và sinh hoạt xã-hội, cộng đồng ở tiểu bang California cùng trình bày những phản ứng sôi động của cộng đồng người Việt đối với những việc làm của tác giả từng là Phó Thị trưởng.
 
Viết về chiến tranh không khó mà cũng không dễ nếu nhìn khía cạnh tác phẩm văn chương. Đưa chính trị vào chiến tranh rồi đưa chiến tranh vào văn chương sẽ tắt nghẽn. Tác phẩm về chiến tranh hoặc về bất cứ đề tài nào thì trước hết phải là văn chương!
 
*
Những nhà văn mới xuất hiện từ giai đoạn này: Cung Thị Lan, Tiểu Thu, Hoàng Quân, Phạm Tín An Ninh, Tiểu Tử, Võ Phú, Tiểu Lục Thần Phong,…
 
Cung Thị Lan xuất hiện từ năm 2004 đã có các tập truyện Nha Trang Dấu Chân Kỷ Niệm (2004); Hai Chị Em (2005); Tình Trên Đỉnh Sầu (2006); Khoảng Cách Của Biệt Ly (2009); Không Phải Chỉ Là Chuyện Con Cọp (2012); Mãi Mãi Chia Xa (2014); Khi Ngỡ Mình Là Thượng Đế (2019)và 2 tập tiếng Anh Unforgettable Kindness (2011) và Two Sisters (2014) – đa phần về quê hương Nha Trang và đời sống mới hội nhập ở Mỹ.
 
Nha Trang Dấu Chân Kỷ Niệm kể chuyện các nữ sinh Nha thành: chuyện học, chuyện tình đầu đời, chuyện thầy cô, v.v. Trích đoạn: “Cuộc sống của Hạ lúc này dường như bị thay đổi. Thỉnh thoảng Hạ lại nhận đươc những bức thư, những bài thơnói về răng khểnh, những tiếng hát tỏ tình và những tiếng kêu tên bất chợt khi đi đường. Tuy nhiên, sự thay đổi này không làm cho Hạ mất đi nỗi trống vắng và buồn tẻ của những buổi trưa im lặng bên khung cửa sổ. Hạ không có thói quen ngủ trưa. Giá mà ngủ được, những điều mơ ước trong Hạ có thể hiện ra trong giấc ngủ và Hạ bớt cô đơn hơn. Đánh đổi những ước mơ trong giấc ngủ, Hạ thường chìm mình mơ mộng theo những giọt nắng xuyên qua cáctán lá dừa, lung linh nhảy nhót trên những cánh mai đỏ cạnh cửa sổ. Hạ cảm thấy bâng khuâng và buồn vơ vẩn. Không hiểu Hạ muốn gì trong cái mơ mộng trên những giọt nắng long lanh ấy. Có cái gì thật mơ hồ trong ý nghĩ. Hình như không phải là những mơ mộng và ước ao của những ngày trước đây.
 
Bất chợt, tiếng nhỏ Anh lảnh lót ngoài thành phá tan cái yên lặng của buổi trưa. – Hạ ơi! Hạ ơi!
 
Đút vội chân vào đôi dép nhựa, Hạ chạy ra khỏi nhà. Nhón chân trên bệ thành để nhô đầu cao hơn bức tường, Hạ dáo dác tìm con nhỏ: – Gì đó Anh?
 
Con nhỏ cũng nhón chân trên cái bệ thành phía ngoài đường để nhô đầu lên đối mặt với Hạ: – Cho Hạ cái này.
 
– Gì vậy?
 
– Chè khoai sáp với nước dừa.
 
– Đâu? Đâu?
 
– Đây nè. Nhìn xuống cái lỗ thành đó.
 
Hạ bước xuống lùi ra sau để nhìn những cái lỗ hình vòng cung như những cái hộp rỗng trong bức tường. Một cái chén kiểu xinh xắn nằm gọn trong cái ô trống của lỗ thành…”
 
“Người ta thường nói: Trái tim luôn đi ngược lại với những ý nghĩ của khối óc. Hạ muốn thay đổi câu nói ấy bằng cách luyện cho khối óc mình minh mẫn để khống chế trái tim lắm chuyện. Hạ đã tìm quên qua việc học ở trường Huyền Trân và các trường tư thục. Hạ ghi danh học thêm lớp Pháp văn do thầy Hoàng Trạc tổ chức. Nhà thầy ở ngay trên đường Duy Tân đối diện biển. Từ cổng đến các lớp học trong nhà thầy được trải toàn đá cuội cho nên với con nhỏ lười như Hạ cũng phải bước xuống xe đạp để dắt vào tận nhà. Căn nhỏ xinh xinh với chiếc xích đu giữa đám hoa đủ màu sắc là nơi Hạ thường ngồi ôn bài hoặc mơ mộng những điều mơ ước. Những lúc buồn, Hạ khóa xe trước nhà thầy, ra biển, ấn chân trần trên cát ướt và chờ những cơn sóng vuốt ve, mơn trớn dưới chân. Sóng biển thường cuốn trôi những dấu chân buồn trên cát chứ không xóa tan được nỗi buồn sâu kín trong tâm hồn của Hạ. Vì thế, tâm nguyện không để cái buồn mênh mông trong tâm trí, và không để trái tim khống chế lý trí sáng suốt không phải là việc dễ dàng. Hạ còn ghi danh học thêm Anh Văn ở trường Kim Yến với Anh và một số con gái trong lớp 12C. Dù học chăm và tranh nhau từng điểm như thế nào chăng nữa, bọn con gái không quên rủ nhau đi vòng vòng sân quần vợt để nhìn những người đánh banh trước khi vào lớp. Mỗi buổi chiều, phố biển thường có những cơn mưa, vậy mà mấy đứa không hề bỏ thói quen lội bộ xung quanh sân quần vợt. Mặc cho nước mưa rơi, cả bọn xăn quần, che dù và lội nước. Hơn bao giờ hết, Hạ yêu thật nhiều cái tuổi mình đang có. Bạn bè hồn nhiên ngây thơ với những mối tình bạn, tình yêu nhẹ nhàng cao thượng. Tất cả đều là những kỷ niệm mà trong các lưu bút, bọn Hạ thường ghi:
 
“Kỷ niệm không là gì khi thời gian bôi xóa / Kỷ niệm là tất cả khi lòng ta muốn ghi”
 
Hay là: “Cái gì cũng mất / Cái gì cũng qua / Duy chỉ có kỷ niệm là còn lại mãi mãi”.
 
Và khi tình chưa trọn vẹn thì “Chiều hôm ấy, thẫn thờ ra biển một mình, Hạ vọc nước biển rồi in những dấu chân trần trên cát ướt. Vị mằn mặn trên môi làm Hạ mơ hồ không hiểu nước do sóng đánh văng lên hay những giọt nước mắt của chính mình. Cảm giác cô đơn tràn ngập, Hạ chờ những cơn sóng cuốn trôi những dấu chân buồn và nhờ chúng chôn sâu niềm đau vào lòng của biển”.
 
Tiểu Thu (1947, Cao Lãnh, Đồng Tháp – ), định cư tại Montréal, Canada, từ 1975, bắt đầu sáng tác năm 1987 và đã xuất bản các tập truyện ngắn Sóng Nước Tình Quê (2002) và Tiếng Hót Vành Khuyên (2007).
 
Phạm Hải Anh từ Hà Lan, đến với độc giả hải ngoại với Huyết Đằng (Văn Mới, 2001) gồm 25 truyện ngắn trong số có truyện đi vào miền đất huyền ảo, và Tìm Trăng Đáy Nước (Văn Mới, 2003). Truyện Huyết Đằng:“… Người ta đồn ông Thản có một thứ thuốc gia truyền quý lắm. Con bệnh thập tử nhất sinh được ông nhận lời chữa là kể như cầm được mạng sống. Sân nhà ông Thản căng thêm mái che cho người ngồi đợi mỗi ngày một đông. Quần vải đen gấu xoăn tít kề bên váy, quần âu. Những bàn tay xám đen nứt nẻ bên những đôi tay được chăm chút sạch sẽ, móng tay cắt hoặc sơn màu. Bụng lép kẹp, bụng phệ, bụng thắt eo… Đủ loại. Chỉ có bệnh tật là bình đẳng đến khắc nghiệt. Dường như có một làn sóng âm u từ địa ngục vờn qua tất cả bộ mặt sang hèn, nhấn chìm chúng trong nỗi lo âu khắc khoải không phân biệt. Ngày của cô Mận trôi giữa những bộ mặt u sầu ấy, bận rộn cuốn quýt. Ông Thản không có thời gian trò chuyện với con gái, nếu có cũng chỉ toàn về thuốc và bệnh. (…)
Mấy tuần sau, một buổi sớm ông Thản ra vườn, thấy trống quang một góc. Khóm huyết đằng đã bị chặt sát tận gốc. Nhựa cây thẫm lại quanh vết chặt, tím đỏ, đặc quánh. Cô Mận bỏ nhà đi từ hồi đêm, đem theo toàn bộ thân huyết đằng, để lại mảnh giấy tạ tội với bố. (…)
 
Mùa đông năm ấy buốt giá chưa từng có. Người ta thấy cô Mận giúp bố đốt nhiều rơm, lấy tro ủ quanh các gốc cây thuốc. Dáng cô nặng nề, chắc sắp đến ngày ở cữ. Mấy bà trong xóm chép miệng bảo ông Thản dại, nhà làm thuốc mà không biết phá cái thai hoang đó đi để giữ tiếng cho con gái. Có người bênh ông, cãi rằng thế mới là có đức, mạng sống quý lắm, ai nỡ vứt bỏ đi được. Ông Thản và cô Mận hình như chẳng bận tâm đến những lời bàn tán. Việc nhà vốn đã bận, lại còn phải mua sắm đủ thứ chờ đứa trẻ ra đời. Tháng Một, đầu giờ tí, cô Mận sinh con trai. Tiếng khóc chào đời oe oe vang cả căn nhà xưa nay vốn yên tĩnh. Ông Thản đốt đèn ra vườn chôn cuống nhau cho thằng bé. Chợt giật mình thấy gốc huyết đằng tưởng chết đã từ lâu lắm bật nhú lên một cái mầm xanh non…” (tr. 109, 113, 114). Nền huyền hoặc cho một chuyện tình cũng bình thường nơi thôn dã.
 
Phạm Tín An Ninh (1943, Ninh Hoà -) Sĩ quan khoá 18 Trừ bị Thủ Đức, sau tù “cải tạo”, năm 1984 vượt biên và định cư tại Na Uy rồi Hoa Kỳ. Đã xuất bản các tập truyện ngắn và bút ký Ở Cuối Hai Con Đường (2008), Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân (18 truyện ngắn và 2 bút ký về Úc châu và New Orleans; TGXB, 2011). Trong các mẫu chuyện ngắn, truyện kể, ông có giọng văn tự nhiên, truyền cảm, với nội dung là những cảnh đời bi đát, khó khăn, phần lớn ở Việt Nam sau biến cố tháng Tư năm 1975. Ở Cuối Hai Con Đường kể chuyện thời gian tù “cải tạo” ở Nghĩa Lộ và tình người của người cán bộ quản giáo tên Thà: anh từng được binh lính Cộng Hoà cứu chữa khi bị thương năm 1972 ở Kontum, nay đối xử có tình với người tù miền Nam. Người tù “cải tạo” ra trại, vượt biển sang Na Uy, biết Thà nay bị bệnh hiểm nghèo, đã giúp tiền thuốc men qua con anh và nhận được thư cảm ơn: “ … Khi ngồi viết nhừng dòng này cho các anh, thực tình tôi không còn nhớ mặt các anh, nhưng tôi còn nhớ rất rõ thời gian tôi làm quản giáo ở trại Nghĩa Lộ. Vậy mà không ngờ hôm nay các anh còn nhớ đến tôi. Đọc thư của cháu Hà từ Ba Lan gởi về, cùng với số tiền của các anh gởi cho, lòng tôi cảm xúc đến nghẹn ngào. Tôi và gia đình xin muôn vàn cảm tạ. ..
 
Phần tôi, sau khi bị kiểm điểm nặng nề ở trại Nghĩa Lộ, tôi bị điều ra mặt trận phương Bắc, trong thời kỳ giặc bành trướng Trung Quốc tràn qua biên giới. Nhờ thương tật, tôi được bố trí một công tác lặt vặt ở hậu cần. Mặt trận kết thúc, tôi bị phục viên về nhà, tiền phụ cấp không đủ nuôi chính bản thân. Tôi chỉ còn một cánh tay mà phải phát rẫy trồng rau để phụ giúp gia đình. ..
 
Tôi biết mình không còn sống bao lâu. Cuối đời một con người, tôi nghiệm rõ được một điều: “Chỉ có cái tình con người với nhau mới thực sự quí giá và tồn tại mãi với thời gian. Những chế độ này, chủ nghĩa nọ, cuối cùng cũng chỉ là những đám mây đen bay trên đầu. Đôi khi che ta được chút nắng, nhưng nhiều lúc đã trút bao cơn mưa lũ xuống để làm khốn khổ cả nhân gian…”.
 
Tiểu Tử cũng xuất hiện trễ trên văn đàn; ôngtên thật Võ Hoài Nam, sanh năm 1930, quê Gò Dầu (Tây Ninh), tốt nghiệp trường kỹ sư Marseille (Pháp) năm 1955, dạy trung học Petrus Ký niên khóa 1955-1956, làm việc cho hãng Shell VN từ 1956 đến ngày mất nước. Vượt biên rồi định cư ở Pháp từ năm 1979. Nhà văn Tiểu Tử  xuất hiện trễ trên văn đàn nhưng đã có những sáng tác sống động về miền Nam những ngày tháng sau năm 1975, với văn phong “miệt vườn” hiện thực mà không thiếu những nét “sang cả” của con người miền Nam. Tuyển tập truyện ngắn Những Mảnh Vụn (Làng Văn, 2004), Bài Ca Vọng Cổ (2006), Chị Tư Ù (TGXB, 2012) và Chuyện Thuở Giao Thời (TGXB, 2014),…
 
Võ Phú và Y Thylà hai bút hiệu của Võ Huỳnh Anh Phú đã xuất bản Tưởng Như Đã Mất (Suối Nguồn, 2003) và thi tuyển Rằng Ta Đang Yêu (Suối Nguồn, 2001). Anh sẽ xuất bản thêm nhiều tác phẩm vào giai đoạn tiếp theo, 2015-2025. Một cây viết trẻ năng động và xuất bản đều đặn nhất của văn học hải ngoại từ đầu thế kỷ XXI.
 
[Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 134-209]
 
(còn nữa)
 
Nguyễn Vy Khanh