User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
que nha 768x767
Tranh: Quê Nhà (Nguồn: artnam.vn)
 
1.
Những cơn gió mùa đông se sắt lạnh luôn gợi trong tôi cảm giác buồn man mác. Một năm lại đi qua. Một cái Tết không chờ lại đến. Mấy mươi năm sống trên quê hương mới giờ đây như đã cũ, không biết từ lúc nào tôi không còn cảm giác nôn nao nhớ nhà khi Tết đến. Xem youtube, nghe những bài hát mừng xuân rộn ràng, nhìn cảnh người dạo chơi, mua bán trên phố hoa trong những ngày sắp Tết ở Sài Gòn, một chút nhớ gợn lên trong lòng tôi nhưng hình như có cái gì hơi lạ lẫm. Đâu là nhà, là nơi để nhớ khi mỗi dịp Xuân về. Tất cả đã xa thẳm, mù khơi.
Buổi tối, ngồi trong căn phòng ấm cúng thả hồn theo dòng nhạc với tiếng hát khàn đục của Lệ Thu qua bài hát  “12 Tháng Anh Đi”  lòng tôi chợt bồi hồi nhớ lại thời tuổi trẻ và những tháng năm với bước chân miệt mài chinh chiến.
 
“Tháng Giêng xuôi quân ra Huế
Cố Đô hoang vu điêu tàn
Bãi học chiều, em vắng bóng
Tóc thề vội quấn khăn tang
Tháng Hai về trấn ven đô
Chong mắt hỏa châu, giữ cầu
Gió thoảng vào hơi rượu mạnh
Qua làn sương ánh đèn màu ….”
 
Tết năm 1971
 
20 tuổi tôi rời bỏ giảng đường, bước chân vào quân ngũ. Sau ba tháng đổ mồ hôi trên thao trường, Tiểu Đoàn tân binh chúng tôi được điều động biệt phái cho Biệt Khu Thủ Đô ra ven biên vùng quận 8, phân thành những chốt trấn thủ an ninh cho Sài Gòn đón Tết. Nhận hai tuần lương khô, ngồi trên đoàn xe hành quân chạy qua thành phố nhộn nhịp chuẩn bị đón xuân lòng chợt se thắt nhớ ba mẹ, nhớ chị em kỳ lạ. Khi được thả xuống vị trí đóng quân là cánh đồng mênh mông chỉ toàn gốc rạ sau mùa gặt hoang vắng, nhìn xa xa thấp thoáng những căn nhà của nông dân ẩn hiện trong chòm cây mờ mờ làn khói cơm chiều, buồn chi lạ. Tiểu Đội chúng tôi được lệnh nhanh chóng đào chiến hào bên bờ ruộng, cạnh cái chòi vịt nhỏ bỏ hoang khi chiều đã xuống. Chuẩn bị xong nơi ở anh em mệt nhoài, bụng đói meo.
 
Chúng tôi lấy nón sắt làm ghế, ngồi quanh nhau chia từng phần lương khô. Bữa ăn đầu tiên của người lính trẻ trên địa hình chiến tuyến với những nụ cười hồn nhiên, đùa giỡn, chọc ghẹo nhau như thời lên chín lên mười. Buổi tối, sau khi phân chia ca gác đêm mọi người phải giữ yên lặng, không được nói cười, không được hút thuốc. Giường ngủ là tấm “poncho” trải trên đất ruộng lởm chởm gốc rạ khô, bên cạnh là khẩu M16 sẵn sàng chiến đấu khi cần. Nhìn lên bầu trời đêm, hàng hàng lớp lớp những vì sao lóng lanh, phía xa xa là ánh đèn thành phố tỏa một vầng sáng lung linh cả một góc trời. Lòng chợt nao nao với nỗi buồn mông lung tựa câu hát êm như lời ru.
 
Gió thoảng vào hơi rượu mạnh
Qua làn sương ánh đèn màu ….”
 
Đêm 30 Tết. Mọi người ngồi lặng lẽ gác giặc với tâm tư nặng trĩu. Bầu trời tối đen, chỉ chập chờn ánh sáng những vì sao yếu ớt và vài vệt đèn vàng leo lét từ thôn xóm xa xa mờ ảo, thỉnh thoảng vọng về tiếng súng. Tôi lặng người trong nỗi nhớ nhà xao xiết. Đây là đêm Giao Thừa đầu tiên tôi xa gia đình. Thèm quá không khí gia đình ấm cúng. Thèm được ngồi bên ba mẹ, bên chị, bên em trong căn nhà nhỏ thân yêu, trước bàn thờ nhang khói tỏa mùi thơm, bên cạnh chiếc bàn đầy những món ăn tràn ngập hương vị ngày Tết.
 
Sáng Mùng Một Tết, sau phiên gác đêm mệt nhừ chúng tôi lăn ra ngủ  cho đến khi mặt trời đứng bóng. Ngồi giữa cánh đồng khô xa thành phố, nhìn quanh vài đồng đội còn say ngủ trong tấm “poncho” quấn quanh người tôi thì thầm  “Một năm cũ đã trôi qua”.
 
Mùng Ba Tết, Tiểu Đội di chuyển đến nơi khác, gần xóm nhà dân. Buổi tối vào lập chốt canh theo bìa cây khu xóm lưa thưa. Mấy ngày qua ăn toàn lương khô ngán tận cổ, tôi nghe thèm thức ăn tươi nên đi loanh quanh tìm hái rau dại, chợt thấy con rạch nhỏ cạnh bờ ruộng có một cái lợp bắt tôm cá đặt bên bờ nước. Cách một khoảng khá xa có căn nhà ẩn sau bờ chuối. Vì bụng đói lại thiếu chất tươi nên trong đầu tôi nẩy lên ý tưởng trộm tôm cá trong lợp này để anh em có một bữa ăn Tết đặc biệt ngon lành. Nhưng ngay lúc ấy tâm trạng tôi lại bị giằng co giữa “Chánh và Tà”. Nhìn thấy những con tôm nhỏ nhảy xoi xói trong lợp thật khó lòng ngăn được nỗi thèm thuồng nhưng tôi vẫn băn khoăn tự hỏi, không biết nhà kia có nghèo lắm không? Nếu mình trộm hết cái lợp nầy, biết đâu cả nhà hôm nay chỉ ăn rau luộc cầm hơi. Nhưng… cuối cùng cái bản ngã xấu xí đã lấn áp cái gọi tính bổn thiện. “Bọn mình đã vất vả canh gác để giữ cho thôn xóm yên bình ăn Tết thì một cái lợp cá cho bữa ăn đang thiếu thốn cũng công bình thôi mà”. Để chấm dứt sự dần dừ tôi quyết định thật nhanh là lội xuống rạch giở lợp. Tôm cá không nhiều nhưng nhìn chúng nhảy tung tóe thật  hấp dẫn. Một người bạn tháo nón sắt, đổ tôm cá vào gần đầy. Tôi dặn, chừa lại một ít nếu lấy hết chủ nhà sẽ biết mình ăn trộm, xấu hổ lắm. Tôi đặt lợp vào chỗ cũ, cả bọn nhanh chân “rút lui chiến thuật” không để lại dấu vết. Thế là trưa hôm đó được ăn Tết với “seafood” luộc và rau dại hái quanh bờ. Bữa cơm Tết ngon nhất của những “người lính học trò” trên cánh đồng ven biên nhớ đời.
 
Hôm sau lại thòm thèm và ý tưởng trộm lợp lại lảng vảng trong đầu. Hy vọng chủ nhà không biết nên tôi và một đồng đội mon men trở lại chỗ cũ. Cái lợp vẫn đặt nơi đó. Chúng tôi đi về phía căn nhà để thăm dò tình hình, nếu không có ai thì sẽ trở lại trút lợp lần nữa. Bỗng nhìn thấy một cụ già bước ra, ông vẫy tay gọi:
 
“Mấy chú lính ơi, bác muốn gặp mấy chú, đến đây đi”.
 
Tôi bối rối, lo sợ nói với người bạn:
 
“Chết cha, ông ta biết mình trộm cá. Nhớ, phải chối quyết liệt không nhận tội”.
 
Tôi đi đến gần ông mà nghe lạnh tóc gáy dù trời đang nắng chang chang. Đối diện với người nông dân khoảng sáu mươi trong chiếc áo sơ mi xám bạc màu dù nét mặt ông rất hiền nhưng tôi vẫn run trong câu nói lắp bắp:
 
“Dạ… mừng tuổi bác… nhà… ăn Tết vui không bác?”.
 
Ông tươi cười:
 
“Cũng thường thôi cháu. Bác có thằng con trạc tuổi các cháu đi lính ở tận vùng hai không về ăn Tết cùng gia đình nên cũng buồn. Trưa nay bác muốn mời các cháu đến nhà ăn một bữa với gia đình bác”.
 
Tôi và người bạn nhìn nhau bối rối. Ông tiếp lời:
 
“Nhà bác chuẩn bị rồi. Mong các cháu không chê”.
 
“Dạ cám ơn Bác, tụi cháu về gọi anh em”.
 
Chúng tôi kéo đến căn nhà lợp lá. Ngoài sân, đàn gà và con chó chạy lăng xăng, ngơ ngác nhìn những người khách lạ. Ông bà đứng trước cửa thân mật mời chúng tôi vào. Trên bàn, mâm cơm đã dọn sẵn, có gà trộn gỏi bắp chuối, thịt kho trứng, bánh Tét và tôm cá luộc. Ông đon đả, chân tình:
 
“Nhà bác không có mỹ vị cao lương để thiết đãi các cháu đã về đây giữ an bình cho thôn xóm, chỉ có chừng nầy thôi mời các cháu ăn thiệt tình nha”.
 
Tôi thật sự xấu hổ khi nhìn thấy đĩa tôm cá trên bàn -có lẽ lấy từ cái lợp chúng tôi đã trộm- và chợt nghĩ  “chắc ông biết nên muốn tháu cáy bọn mình đây”. Trong suốt bữa ăn, ông luôn miệng nhắc đến người con đang chinh chiến phương xa với niềm xúc động.
 
“Thấy các cháu, bác nhớ thằng Bình con bác đi lính Biệt Động Quân biên phòng, không biết nó có được ăn Tết không!”.
 
Giọng ông như nghẹn lại, đôi mắt già rươm rướm lệ. Câu nói đơn sơ ấy như có sợi tơ mong manh nào đó siết nhẹ trái tôi. Chắc nơi quê nhà xa xôi mẹ tôi cũng không ngừng lau nước mắt mỗi  khi nghe  thấy câu hát quen thuộc
 
Con biết bây giờ mẹ chờ tin con
Khi thấy mai đào nở vàng bên nương
Năm trước con hẹn đầu xuân sẽ về
Nay én bay đầy trước ngõ
mà tin con vẫn xa ngàn xa
 
Tôi nhìn ông với nụ cười ấm áp như để chia sẻ nỗi niềm riêng. Ngay phút giây ấy tôi chợt muốn thú tội đã trộm lợp của ông nhưng không đủ can đảm nói ra. Uống cạn ly rượu nhỏ cay cay, tôi cúi đầu cám ơn ông. Chân bước nhưng lòng còn ở lại với chút ray rứt không yên.
 
Tết 1974
 
3 năm sau tôi ra đơn vị về Tiểu Đoàn biệt lập trấn giữ chốt biên phòng biên giới Việt Miên vùng Núi Dài Châu Đốc. Nhớ lại, từ ngày rời gia đình vào quân ngũ chưa năm nào tôi được ăn Tết ở nhà hay thành phố. Tết vẫn đến buồn thiu giữa đồng hoang trên vùng đất Chương Thiện hay Bảy Núi biên phòng. Những bữa cơm Tết cùng đồng đội với cá khô hay chút thịt chồn, thịt thỏ rừng săn bắt được đã gọi là thịnh soạn lắm nhưng không sao sánh được với bữa ăn tình nghĩa quân dân ngày Tết ven biên Sài Gòn năm xưa. Mỗi lần Tết về là mỗi lần tôi nhớ nhà da diết, vì dù ở nơi đâu, dù đang làm gì, đã là người Việt Nam nếu không được về nhà ăn Tết hẳn ai ai cũng đều có nỗi nhớ như nhau.
 
2.
Năm mươi năm trôi qua, thế sự đổi dời. Quê hương thân yêu nơi mình sinh ra và lớn lên thật sự đã mất nên đành chọn nơi nầy làm chốn dung thân. Bốn mươi hai cái Tết không mời vẫn lặng lẽ đến trong cuộc đời không ít gian truân của tôi. Những cái Tết được tổ chức trong các cộng đồng người Việt trên mảnh đất xa lạ nầy cũng không gợi cho tôi nỗi nhớ sâu thẳm tận cùng như ngày xưa đã từng nhớ. Nếu có chăng chỉ là những thương nhớ, xót xa vì giờ đây mẹ cha đã khuất còn chị em tuổi đã về chiều, xa cách trùng dương.
 
Kỷ niệm xưa chợt trở về cho lòng tôi thoáng chút bâng khuâng. Chắc ông cụ chủ lợp đặt cá của mấy mươi năm về trước không còn nữa và cánh đồng ven biên giờ đã trở thành phố xá. Các bạn “lính học trò” đi gác giặc năm nào có người đã mất trong chiến tranh, trong lao tù, có người đã gửi nắm xương tàn trên đường vượt biên hay khắc khoải với kiếp sống truân chuyên ở đâu đó trên quê hương nghèo nàn.
 
Và với tôi, nỗi nhớ Tết đã trở thành mù khơi.
 
Đặng Hiếu Sinh (TYH)
 

 

Tìm các bài VĂN khác theo vần ABC . . .