User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
sgdonga
Chợ Bến Thành, chụp năm 2008. Author: Riza, wiki commons
 
Hôm nay tôi lại đón xe buýt qua Quận Một, xe ghé đường Hàm Nghi, trạm dừng ngay trước chợ Bến Thành đương hồi tu sửa. Định bụng viết tiếp về con đường Lê Lợi, nhưng chân vừa chạm đất đã thấy lòng níu lại trước cái chợ già hơn trăm tuổi này. Là biểu tượng của Sài Gòn, không nhắc sao đành. Một số bạn hỏi sao chẳng thấy tôi nói tới Nhà thờ Đức Bà, cũng là một biểu tượng đó chớ. Xin thưa, chuyện Công giáo Sài Gòn tôi đã dành hẳn một bài dài riêng, ở đây xin phép không lặp lại.
 
Từ Ao Tù Nước Đọng Đến Bãi Đất Vàng
 
Chuyện xưa kể rằng, ngôi chợ này vốn không sinh ra ở chỗ nó đang đứng. Thuở đầu, chợ Bến Thành nằm bên bờ sông Bến Nghé, cạnh cái bến ghe tấp nập cho lính tráng và dân chúng ra vào thành thành Quy. Vì có bến, có thành, nên gọi Bến Thành, cái tên ấy theo chợ tới tận bây giờ, dù chợ đã dời chỗ không biết bao lần. Năm 1819, ông Thuyền Trưởng người Mỹ John White ghé ngang, còn ghi lại trong hồi ký cảnh mua bán rộn ràng, ông nói, “người Sài Gòn hiếu khách, và cái mùi nước mắm len lỏi khắp bến sông”. Một chi tiết nhỏ mà đọc lên thấy thương làm sao, hóa ra mùi vị quê hương đã bám riết đất này từ hai trăm năm trước.
 
Rồi loạn Lê Văn Khôi nổ ra, thành Quy bị phá, chợ theo đó cũng tàn. Pháp đánh chiếm Sài Gòn năm 1859, quân Việt rút lui còn phóng hỏa thiêu rụi cả thành, chợ cháy trụi theo. Năm 1860 người Pháp dựng lại chợ ngay chỗ cũ, cột gạch, sườn gỗ, mái lá đơn sơ. Tháng 7/1870 chợ lại cháy một gian, phải xây lại bằng sườn sắt, mái ngói, chia năm gian: thực phẩm, cá, thịt, ăn uống, tạp hóa. Trong đó chỉ gian hàng thịt được lợp tôn, nền lát đá xanh, kỹ lưỡng hơn cả.
 
Khu chợ lúc ấy ở bên bờ nam Kinh Lớn, trước mặt là đường Charner, người dân quen miệng gọi đường Quảng Đông, bởi phần đông người buôn bán ở đây là người Quảng Đông. Ghe thuyền cứ việc cập bến hai bên bờ mà đổ hàng lên chợ, ai đi bộ thì băng qua mấy cây cầu gỗ xinh xắn.
 
sgdonga1
Chợ Bến Thành cũ bên Kinh Lớn, sau là Đại lộ Charner. Author: Unknown author, wiki commons
 
Cảnh ấy náo nhiệt được một thời, nhưng rồi hàng hóa lưu thông nhiều quá, kênh ô nhiễm nặng, người Pháp lấp kênh. Đoạn trên lấp năm 1887 nhập vào đại lộ Charner, người dân gọi nôm na đường Kinh Lấp, chính là đường Nguyễn Huệ ngày nay. Đoạn dưới mãi cuối thập niên 1960 mới lấp nốt.
 
Đến khoảng giữa năm 1911, ngôi chợ già nua ấy đã mục ruỗng, chực sập bất cứ lúc nào. Người ta đành đập bỏ, chỉ chừa lại gian hàng thịt mái tôn. Và đó cũng là lúc chính quyền thuộc địa nhắm tới một khu đất khác, ở gần nhà ga xe lửa đi Mỹ Tho để dựng nên một ngôi chợ mới, lớn hơn, bề thế hơn. Khu đất ấy, kỳ thực, chỉ là một cái ao tù sình lầy tên gọi ao Bồ Rệt, marais Boresse, nơi những phận người nghèo khổ nhất thành phố từng dựng nhà lá sống qua ngày.
 
Nhà nhân học Ann Marie Leshkowich, trong công trình nghiên cứu về giới tiểu thương Bến Thành, có nhắc lại những cuộc bàn cãi kéo dài của Hội đồng Thành phố suốt mấy chục năm trời. Năm 1869 người ta đã tính chuyện xây chợ khung sắt kiểu nhà ga Orléans bên Pháp, ngân sách phê chuẩn 110.000 franc, ấy vậy mà năm sau chi phí đội lên gấp ba, kế hoạch phải xếp lại. Đúng lúc ấy, chiến tranh Pháp – Phổ (1870-1871) ập tới, mọi công trình lớn, kể cả Bưu điện Trung tâm đều bị đình trệ hàng chục năm trời. Mãi đến năm 1893, thị trưởng mới đề xuất lại về ba công trình biểu tượng cho bộ mặt mới của đô thị: nhà hát, tòa thị chính, và chợ trung tâm. Nhà hát xong bảy năm sau, Tòa Thị chính hoàn thành năm 1908, còn ngôi chợ, phải đợi tới tận 1914 mới thực hiện.
 
Cái ao Bồ Rệt ấy, trong mắt các nhà quy hoạch thời đó, là một chướng ngại, nó hoang dã đe dọa cái nền văn minh mà họ đang cố công dựng xây. Lấp ao, dựng chợ với họ đó không chỉ là việc làm ăn, mà còn là một cách khẳng định trật tự mới lên vùng đất cũ. Nghĩ cũng lạ, một khu đất từng bị coi là ô uế, hôi hám, rốt cuộc lại trở thành trái tim thương mại của cả một thành phố. Đời là vậy, chỗ trũng nhất đôi khi lại nở ra bông hoa đẹp nhất.
 
Chợ Mới Ra Đời – Một “Tòa Thành” Giữa Lòng Sài Gòn
 
Công cuộc xây chợ mới khởi sự năm 1912, do hãng thầu Brossard et Maupin đảm trách, Kiến Trúc Sư chính là ông Eugène Mopin, năm ấy vừa tròn bốn mươi tuổi, từng có tay trong nhiều công trình lớn ở Hà Nội và khắp Đông Dương. Người ta đồn rằng ông lấy cảm hứng từ chợ Les Halles ở giữa lòng Paris, ngôi chợ nhà lồng khổng lồ xây từ 1870, nhưng khi đặt bút vẽ nên Bến Thành, ông vẫn để lại dấu ấn riêng.
 
Vỏn vẹn chỉ hai năm, từ một bãi bùn sình trũng nằm giữa mấy con kênh vừa lấp, một ngôi chợ nhà lồng nguy nga mọc lên, dài trăm mét, rộng tám chục mét, chia bốn phần vuông vắn, có đến mười sáu cửa ra vào, bốn cửa chính hướng Đông, Tây, Nam, Bắc bề thế như thành trì. Nhìn từ trên cao, cả tổng thể trông chẳng khác nào một tòa thành cổ, đăng đối, nghiêm cẩn. Nhà báo Phạm Quỳnh, lần đầu đặt chân vào Sài Gòn năm 1918, đã phải thốt lên rằng “chợ Đồng Xuân Hà Nội chẳng thấm vào đâu so với cái chợ rộng mênh mông này”.
 
sgdonga2
Chợ Bến Thành vào thời Pháp thuộc. Từ trái qua phải. Hình 1: Chụp năm 1930. Author: Indochine française. Aéronautique militaire. Hình 2 &3: Chụp giữa năm 1920 và 1929. Author: Haut commissariat de France pour l’Indochine, wiki commons
 
Bên trong, hai lối đi lớn cắt nhau hình chữ thập, rộng những hai mươi mét, vỉa hè bao quanh rộng đến tám mét. Mái ngói hai tầng được nâng bởi vòm thép, loại kết cấu vốn dùng cho nhà ga, nhà xưởng lớn. Nhờ vậy trụ đỡ chỉ cần đặt ở hành lang vòng ngoài, còn khoảng không bên trong thênh thang, sáng bừng ánh sáng ngày, gió lùa thông thoáng. Dưới nền có hệ thống cống rãnh, hầm nước quy mô, sau này thêm trạm biến thế và mạng lưới điện. Diện tích khuôn viên hơn mười ba ngàn mét vuông, gấp đôi chợ Đồng Xuân cùng thời. Nếu tính luôn dãy phố chữ U bao quanh thì tổng mặt bằng lên tới chín mươi mốt ngàn năm trăm mét vuông, một khoảnh đất thương mại đồ sộ hiếm nơi nào sánh kịp vào lúc ấy.
 
Riêng cái tháp đồng hồ nơi cửa chính cao hơn mười tám mét, đứng sừng sững giữa những mái vòm ngói đỏ, tạo cho ngôi chợ dáng vẻ đồ sộ mà thanh nhã, một sự kết hợp không dễ có. Đường nét trang trí bên ngoài tháp mang phong cách Phục Hưng, khỏe khoắn mà phong lưu. Trên đỉnh, quanh cột thu lôi, người ta tạc hình một bầu rượu, biểu tượng sung túc trong quan niệm người Việt. Riêng chi tiết ấy thôi, đã thấy cái khéo léo của người thiết kế. Một công trình Pháp dựng, nhưng biết cách cài vào đó ý niệm phồn thịnh rất Việt Nam, hòa quyện thành một phong cách Pháp – Đông Dương từ rất sớm.
 
Kinh phí xây chợ ngốn hết 975.000 franc, tính theo giá gạo xuất khẩu năm 1910 thì tương đương chừng mười chín ngàn tấn gạo, quy ra thời giá hiện đại xấp xỉ 12,7 triệu đô la Mỹ. Số tiền ấy, tất nhiên, đến từ ngân sách chính quyền, mà ngân sách thì lấy từ thuế của dân. Nên nói cho cùng, ngôi chợ này chính là kết tinh của tài lực, trí tuệ và cả mồ hôi của biết bao thế hệ, không riêng gì công lao người Pháp.
 
Lễ khánh thành, báo chí đương thời gọi là “Tân Vương Hội”, kéo dài suốt ba ngày 28, 29, 30 tháng 3 năm 1914, hút về hơn trăm ngàn người từ khắp các tỉnh. Lễ có cộ đèn, có pháo bông, có múa lân, thi võ, hát bội, đá banh ở vườn Bờ Rô, thi xe hoa, xổ số ở Dinh Xã Tây và lạ lùng hơn cả, có màn đấu cọp của cô gái tên Võ Thị Vuông, con gái một lão võ sư, đấu với con cọp vừa bẫy được trên rừng cao su Thủ Dầu Một, kết thúc lúc chính ngọ khi con cọp trúng đòn hiểm nơi yết hầu. Nghĩ về Lễ khánh thành chợ tôi không khỏi bật cười, thời buổi ấy người ta làm marketing, làm PR cho một cái chợ mới mà công phu, náo nhiệt chẳng thua gì lễ hội hiện đại bây giờ, chỉ thiếu mỗi cái livestream.
 
Quảng Trường Trước Chợ – Nhụy Hoa Của Bảy, Chín Cánh Đường
 
Trước cửa Nam chợ là khoảng đất trống được quy hoạch thành quảng trường, ban đầu gọi Place du Marché, rồi tháng 7/1916 đổi thành Place Eugène-Cuniac để tưởng niệm ông Thị Trưởng vừa qua đời, chính ông là người có công lấp ao Bồ Rệt năm xưa. Quảng trường ấy rộng 3.220 mét vuông, quy tụ đến bảy, tám, rồi chín con đường tỏa ra các hướng như Lê Lợi, Trần Hưng Đạo, Hàm Nghi, Huỳnh Thúc Kháng, Lê Lai, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… Nhìn từ trên cao, cả khối giao lộ ấy tựa như một nhụy hoa, còn bảy tám con đường kia là những cánh hoa xòe ra nhiều phía.
 
Những năm 1920, nơi đây rộn tiếng xiếc, cải lương, nhạc tài tử, cả những trận Quyền Anh. Ga Sài Gòn khánh thành năm 1915, trạm xe điện dựng năm 1923, rồi hai trạm xe buýt hai bên Đông – Tây, biến quảng trường thành đầu  mối giao thông sầm uất của thành phố. Năm 1929 người ta xây thêm bùng binh, vườn kiểng ở giữa, năm 1970 dựng hai cầu vượt cho người đi bộ, đến 1972 lại tháo dỡ. Tên gọi cứ đổi theo vận nước, 1955 là quảng trường Diên Hồng, sau 1963 mang tên liệt nữ Quách Thị Trang, tượng Tướng Quân Trần Nguyên Hãn cưỡi ngựa thả chim được dựng lên bệ đá giữa bùng binh.
 
Năm 2014, cả khu vực bị trưng dụng để thi công ga Metro đầu tiên của thành phố, mặt bằng chỉ mới được tái lập hai năm gần đây. Giờ thành phố lại tính chuyện cải tạo cảnh quan, đã xong trước năm 2025, diện tích chỉnh trang tới 45.000 mét vuông, tượng Trần Nguyên Hãn và Quách Thị Trang có thể sẽ được đặt lại ở vị trí hài hòa hơn ở không gian mới. Ngẫm ra, cái mô hình TOD, phát triển đô thị theo định hướng giao thông công cộng mà giới quy hoạch bây giờ hay nhắc, thật ra người Sài Gòn xưa đã làm từ hồi đầu thế kỷ gồm nhà ga, bến cảng, chợ trung tâm gắn liền một khối, để dân đi lại thuận tiện nhất có thể. Cái mới thì ra chỉ là tên gọi, còn cái khôn của người xưa thì vẫn còn nguyên giá trị.
 
sgdonga3
Cảnh mua sắm đông đúc những ngày trước Tết ở chợ Bến Thành, trước năm 1975. Nguồn ảnh: internet.
 
Miếu Nhỏ Dưới Tháp, Đôi Bàn Tay Gốm Biên Hòa
 
Ở một góc chợ ít người để ý, ngay dưới chân tháp đồng hồ, trong một căn phòng chừng ba chục mét vuông, tiểu thương lập nơi thờ Phật, Thổ Công, Thần Tài, Ông Địa, và cả Thành Hoàng làng Tân Khai xưa. Nơi tướng Nguyễn Hữu Cảnh từng đặt đại bản doanh năm 1698 khi vào Nam lập phủ Gia Định. Một phong tục uống nước nhớ nguồn, âm  thầm, ít chợ nào giữ được không gian tâm linh rộng rãi đến vậy giữa lòng phố thị ồn ào.
 
Năm 1952, chợ được tu sửa lớn, người ta đặt xưởng mỹ nghệ Biên Hòa làm mười hai bức phù điêu gốm gắn vào bốn cửa chợ. Theo bài viết của tác giả Nguyễn Minh Anh thì người sáng tác là họa sĩ Lê Văn Mậu (1917-2003), cùng các nghệ nhân lành nghề như Sáu Sảnh, Tư Ngô, Hai Sáng thực hiện. Phù điêu dùng hai màu quen thuộc của gốm Biên Hòa trắng ta và xanh đồng, “men ta” pha chế từ đồng và nguyên liệu thiên nhiên, khác hẳn “men tàu” nhập cảng bằng đường biển. Vì nung bằng củi, lửa không đều, nên trên cùng một mảng gốm màu men đậm nhạt loang lổ. “Lỗi” nung ấy, lại làm nên nét duyên hiếm thấy ở dòng gốm hiện đại ngày nay.
 
Bốn cửa, mỗi cửa để ba bức mang biểu tượng riêng. Cá đuối với nải chuối ở cửa Tây, vịt xiêm với chuối ở cửa Bắc, bò với vịt ở cửa Đông, đầu bò với cá chép ở cửa Nam. Trước năm 1952, ngôi chợ gần như không có họa tiết trang trí nào cả. Bởi thuở thiết kế ban đầu, Hội đồng Thành phố chỉ chú trọng đến công năng, trần cao thoáng khí, nền lát đá, hệ thống thoát nước, còn chuyện thẩm mỹ bị gác lại phía sau. Mãi gần bốn mươi năm sau, cái đẹp mới được bù đắp, ngôi chợ cần có thời gian để tự tìm ra bản sắc của riêng mình.
 
sgdonga4
Các bức tranh gốm ở các cửa Đông, Tây, Nam, Bắc của chợ Bến Thành. Ảnh: Nguyễn Lương Cao Nhân, Saigoneer
 
Từ Biểu Tượng Văn Minh Đến Miền Ký Ức Của Muôn Người
 
Ban đầu, các quan chức Hội đồng hình dung ngôi chợ mới như một cơ sở thương mại văn minh, tân tiến bậc  nhất theo chuẩn châu Âu. Nhưng năm tháng trôi qua, cái vẻ “hiện đại” ấy dần bị lấn át bởi chính hơi thở buôn bán rặt Việt của bao thế hệ tiểu thương. Từ một biểu tượng của văn minh phương Tây, Bến Thành lặng lẽ chuyển mình thành một cột mốc ký ức, nơi bất cứ người Sài Gòn nào đi xa cũng phải ngoái đầu nhớ về.
 
Nhà nghiên cứu Maurice Halbwachs từng nói rằng, “ký ức lịch sử văn hóa mang tính tập thể, dù khởi thủy có thể do một cá nhân hay một nhóm nhỏ tạo dựng nên. Một khi số đông cùng tiếp nhận, cùng lưu giữ trong tiềm thức, thì cái công trình ấy không còn là của riêng ai nữa, nó thuộc về tất cả mọi người”. Vì vậy mà mọi sự đổi thay ở một di sản như Bến Thành như hình dáng tổng thể, khối cửa chính, chiếc đồng hồ, cả màu sắc mặt ngoài đều chạm tới cảm xúc của công chúng, nên việc trùng tu cần hết sức thận trọng, cần tham vấn cả chuyên gia lẫn dân chúng.
 
Tôi chợt nhớ chuyện Bưu điện Trung tâm, lúc mới xây, tòa nhà khoác lớp sơn vàng sậm tươi rói, nhưng năm tháng phai bạc dần, để rồi cái đọng lại trong tâm khảm người Sài Gòn lại là màu vàng nhạt quen thuộc. Đến khi chỉnh trang, người ta phải chọn giữa màu gốc và màu ký ức và phần đông bao giờ cũng chọn cái thứ hai. Bởi đó mới là thứ họ mang theo trong lòng để đo lường, để nhận ra “nhà mình”. Ký ức, suy cho cùng, không trung thành với nguyên bản, mà trung thành với cảm xúc. Bến Thành cũng vậy, nó không còn là công trình của người Pháp áp đặt lên, mà đã đan cài vào đời sống, trở thành một phần máu thịt của thành phố này, qua từng thế hệ cư dân cứ lặng lẽ chạm vào, sống cùng nó mỗi ngày
 
Cái Rốn Quý Của Hàng Và Người
 
Nếu kiến trúc là bộ xương, thì đời sống chợ búa mới thực sự là phần hồn của Bến Thành.
 
Những năm 1990, chánh bếp ở các khách sạn lớn quanh Quận 1 kể rằng sáng nào họ cũng dành thời gian ghé chợ Bến Thành lựa những thứ tươi ngon nhất trong ngày. Hồi ấy siêu thị chưa nhiều, cửa hàng thực phẩm cao cấp cũng chưa có như bây giờ, nên Bến Thành gần như là kho cung ứng hàng ngon cho nhà hàng, khách sạn và những gia đình khá giả. Bởi vậy mới có người gọi vui đây là “chợ nhà giàu”.
 
Nhưng gọi vậy cũng chỉ đúng một phần. Bến Thành chưa bao giờ chỉ dành cho người có tiền. Trong dòng người ra vào chợ có thương gia, viên chức, quân nhân, học trò; có người khá giả, cũng có phu phen, xích lô. Trong chợ là tiểu thương, đầu nậu;  ngoài rìa lại có người buôn thúng bán bưng. Người mua kẻ bán chen vai, trả giá, chuyện trò với nhau, thành thử sang hèn bước vào đây rồi cũng cùng đứng trước một sạp hàng, cùng lựa một mớ rau, miếng thịt hay món đồ vừa ý. Chính cái lẫn vào nhau ấy mới làm nên một khu chợ đúng nghĩa.
 
Mà hàng ở Bến Thành thì gần như thứ gì cũng có. Ngoài thực phẩm, chợ còn là một “tổng kho” vải vóc, y phục, nữ trang, bánh kẹo, đồ chơi, hàng lưu niệm. Từ trong nhà lồng, sức buôn bán lan ra những con đường chung quanh. Lê Thánh Tôn, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh hợp thành một vùng “Đại Phố”, chen nhau tiệm vàng, tiệm trà, hàng tơ lụa, ti vi radio, nhà thuốc, nhà hàng. Bến Thành vì vậy đâu chỉ gói gọn trong bốn bức  tường của ngôi chợ; cả một vùng phố chung quanh cũng sống theo nhịp thở của nó.
 
Nhộn nhịp nhất vẫn là những ngày giáp Tết. Sạp hàng tràn ra dọc mặt tiền chợ, đèn thắp sáng trưng, người mua kẻ bán kéo dài tới tận khuya. Hàng hóa nhiều thêm, người cũng đông thêm, tiếng nói cười, mời chào, trả giá quyện vào nhau. Tôi nghĩ, ai từng một lần đi chợ Tết Sài Gòn những năm ấy, chắc khó quên cái không khí vừa chen chúc vừa háo hức đó. Tết hình như chưa cần bước vào nhà, chỉ cần ra tới Bến Thành đã nghe nó tới gần.
 
Bến Thành bởi vậy giống như một cục nam châm lớn, không chỉ hút hàng hóa mà còn kéo về đủ phận người. Thuở trước, người Ấn Độ từng bán “lụa Bombay” trên đường Sabourain – Lưu Văn Lang cạnh chợ. Người Việt, người Hoa, người Ấn, người Pháp, kẻ làm chủ hiệu, người đứng bán hàng, người tới mua bán làm ăn, cứ thế gặp nhau quanh một khu phố chợ. Mỗi cộng đồng mang tới một thứ hàng, một cách buôn bán, một nếp sống riêng, rồi qua năm tháng cùng góp vào sự phồn thịnh của Bến Thành.
 
Cái tính chất giao thoa ấy đến nay vẫn còn. Tiểu thương trong chợ có người nói làu làu tiếng Anh, tiếng Hoa, tiếng Nhật, rồi học thêm vài câu tiếng Thái, tiếng Hàn, tiếng Malaysia để thuận chuyện mua bán với khách phương xa. Chẳng cần trường lớp gì cao xa, đứng giữa một sạp hàng mà ngày ngày gặp người tứ xứ, người ta tự học cách hiểu nhau để làm ăn. Đó cũng là thứ ngôn ngữ riêng của chợ, miễn sao người mua hiểu người bán, rồi vui vẻ mà trao hàng, nhận tiền.
 
Bến Thành cũng từ lâu vượt khỏi chuyện mua bán thường ngày để thành một phần bộ mặt Sài Gòn. Năm 2000, Tổng thống Mỹ Bill Clinton từng ghé ăn phở ở đầu đường Phan Chu Trinh, một sự kiện hiếm có khiến cả khu vực xôn xao. Từ hè năm 2022, chợ mở cửa đến chín, mười giờ tối, nhập vào nhịp “kinh tế đêm” của thành phố. Khách đến đây bây giờ có khi chẳng mua gì, chỉ đi một vòng, ăn một món, nhìn một ngôi chợ đã quá quen trên hình ảnh về Sài Gòn, vậy cũng thành một cuộc ghé thăm.
 
Nhưng có lẽ điều đáng nói hơn nằm ở chỗ khác. Từ năm 1935, trong “Một Đời Tài Sắc”, Hồ Biểu Chánh đã kể chuyện một công tử tỉnh lẻ mắc “chứng bệnh buồn” chỉ vì sau một lần ghé chân, trở về lại nhớ chợ Bến Thành, nhớ Sài Gòn hoa lệ. Chuyện văn chương thôi, nhưng soi vào đó lại thấy tâm tình của cả một thời. Người ta tới chợ để mua hàng, rồi khi đi xa, thứ còn mang theo đôi khi chẳng phải món hàng nào hết, mà là tiếng rao, ánh đèn, dòng người và cái náo nhiệt của một thành phố từng đi ngang đời mình.
 
Bởi vậy, gọi Bến Thành là cái rốn của hàng hóa có lẽ vẫn chưa đủ. Hàng từ bốn phương đổ về đây rồi lại theo chân người tỏa đi khắp chốn; còn con người đến rồi đi, gặp gỡ nhau, làm ăn với nhau, để lại một chút đời mình giữa phố chợ. Qua hơn một thế kỷ, thứ quý nhất Bến Thành giữ lại có lẽ cũng không nằm trong những sạp hàng. Nó nằm trong bao lớp người từng đi qua đó, và trong nỗi nhớ mà khu chợ ấy gieo vào lòng họ.
 
Một khu chợ, đến lúc khiến người ta nhớ nó như nhớ cả một thành phố, thì nó đã không còn chỉ là chợ nữa.
 
Chỗ Trũng Nở Hoa
 
Cái nghịch lý dễ thương của Bến Thành vốn nó sinh ra từ một vũng lầy bị người đời chê là ô uế, đe dọa văn minh, vậy mà hơn trăm năm sau lại trở thành trái tim, thành biểu tượng không thể thiếu của cả một đô thành. Tháp đồng hồ vuông vắn kia, đứng sừng sững giữa nắng mưa Sài Gòn, đã chứng kiến bao lớp người đến rồi đi, từ thời Pháp thuộc, qua Đệ Nhất, Đệ Nhị Cộng Hòa, đến hôm nay khi đoàn tàu Metro sắp chui lên ngay trước cửa chợ. Mỗi lần đổi tên quảng trường, từ Cuniac sang Diên Hồng, rồi Quách Thị Trang là một lần lịch sử sang trang, nhưng cái tên Bến Thành thì vẫn vậy, chẳng ai buồn đổi, nó như là phần cốt lõi không thể động vào.
 
Xét cho cùng, di sản đâu chỉ là gạch đá, cột kèo. Nó là cái cách người ta chọn nhớ điều gì, quên điều gì. Như câu chuyện màu sơn Bưu điện Thành phố, người ta không chọn giữ nguyên bản, mà giữ lại thứ ký ức mình quen thuộc. Bến Thành cũng thế, qua bao lần cháy, bao lần dời, bao lần đổi tên, cái còn lại sau cùng không phải là công trình nguyên thủy của Kiến Trúc Sư Mopin, mà là cảm giác thân thuộc của hàng triệu con người đã từng ngang qua, từng mua một bó rau, từng ăn một tô bún, từng đứng dưới tháp đồng hồ chờ ai đó. Ký ức không cần chính xác tuyệt đối, nó chỉ cần đủ ấm để người ta bám vào mà sống tiếp.
 
Sài Gòn rồi sẽ còn đổi thay nhiều nữa, rồi metro sẽ chạy, quảng trường sẽ khoác áo mới, tượng đài sẽ dời chỗ. Nhưng tôi tin, chừng nào còn người Sài Gòn nào đó, đi xa ngàn dặm, chỉ cần nhắm mắt lại là thấy hiện lên cái tháp đồng hồ cũ kỹ giữa dòng xe cộ, thì chừng đó Bến Thành vẫn còn sống, dù cho bùn lầy năm xưa có bị người đời quên bẵng đi mất rồi.
 
Nguyễn Đông A
 

 

Tìm các bài BIÊN KHẢO khác theo vần ABC . . .