User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
nuocchaynguocdong
hình AI trên trang Fb của Quang Nguyễn
 
Miền Tây mùa gió chướng năm ấy không chỉ mang theo cái se lạnh của những ngọn sóng bạc đầu đổ về từ phía Mekong, mà còn chở theo một thứ không khí liêu trai, bảng lảng khói sương. Trên những dải cù lao nằm im lìm như những con cá đuối khổng lồ giữa dòng Tiền Giang đỏ quạch phù sa, sự sống không trỗi dậy bằng tiếng cười mà bằng tiếng chuông khánh mỏng manh, vọng ra từ những ngôi nhà ba gian ẩn sau những tán vườn rậm rạp. ​Ở đó, nắng chiều không vàng óng ả mà lại rực lên một màu đỏ bầm như máu cá, rót xuống những rặng dừa nước đang vươn những cánh tay khẳng khiu, đen kịt lên bầu trời xám xịt. Dưới chân những gốc nhãn cổ thụ rễ mọc chằng chịt như con trăn đất, người ta không chỉ thấy bùn lầy, mà còn thấy những mảnh sành vỡ, những hình nhân thế mạng bằng giấy xanh đỏ bị mưa dập nát, nằm lăn lóc bên những hũ tro cốt vô chủ.
 
​Căn nhà của bà Hai Hiền nằm tách biệt bên một ngã ba sông, nơi con nước xoáy tạo thành những cái hố sâu hun hút mà dân chài thường rỉ tai nhau là cửa ngõ của cõi âm. Trong gian nhà ấy, ánh sáng mặt trời dường như bị chặn lại bởi lớp lớp những lá bùa vàng võ, chi chít những ký tự ngoằn ngoèo như giun bò, dán kín từ xà nhà xuống tận ngưỡng cửa. ​Mùi của ngôi nhà là một hỗn hợp đặc quánh, lợm giọng: nó có cái vị mốc nồng của gỗ mục, mùi hăng hắc của nhựa trầu, và trên hết là mùi khói nhang nồng nặc đến nghẹt thở – thứ khói không bay vút lên cao mà cứ lờ lững, quẩn đặc dưới mái ngói vảy đỏ rực, tạc vào lòng người một cảm giác bất an truyền kiếp. Trong cái không gian tù đọng ấy, tiếng gõ mỏ đều đặn vang lên giữa trưa vắng không mang lại sự thanh tịnh, mà nghe như tiếng đinh đóng vào quan tài, nhắc nhở về một sự mục rỗng đang gặm nhấm dần mòn những lý trí cuối cùng của con người.
 
​Bà Hai Hiền ngồi đó, giữa trung tâm của mê hồn trận ấy. Đôi mắt, vốn đã đục ngầu theo tuổi tác, nay lại rực lên một thứ ánh sáng kỳ quái, mê dại mỗi khi nhìn vào chén nước thánh sủi bọt. Bà không còn nhìn thấy màu xanh của vườn tược, không nghe thấy tiếng cá quẫy đuôi dưới bến, bà chỉ nghe thấy những lời thì thầm của Thần, của Thánh qua cái miệng đầy nhựa trầu của những gã thầy đang ngày đêm rút cạn nhựa sống của gia đình bà dưới danh nghĩa giải nghiệp oan gia.
 
Bà Hai Hiền không còn giống một người đàn bà Nam Bộ phúc hậu của những mùa nhãn chín. Thời gian và sự mê muội đã gọt giũa bà thành một thứ gì đó khô héo, quắt quay như trái cau bị bỏ quên trên bàn thờ. ​Bà ngồi, lưng còng sụp xuống như bị đè nặng bởi hàng tấn lời sấm truyền. Làn da bà không còn sắc máu, nó chuyển sang màu vàng bệch của giấy bản, lại được dặm thêm những vệt tro nhang vương vãi trên đôi gò má cao, khiến gương mặt bà lúc nào cũng loang lổ, âm u như một bức phù điêu bị rêu phong phủ kín. ​Đáng sợ nhất là đôi mắt. Đó là đôi mắt đã từ chối nhìn vào ánh nắng mặt trời rực rỡ ngoài kia để chỉ đăm đăm nhìn vào những chén nước bùa và những con búp bê hình nhân thế mạng. Tròng mắt bà đục lờ như nước lòng sông mùa động sau thời gian mất ngủ vì suy tư âu lo, nhưng mỗi khi nhắc đến căn số hay vong hành, nó lại lóe lên một thứ ánh sáng xanh xao, ma quái, thứ ánh sáng của một đức tin đã biến tướng thành cơn tâm thần phân liệt. ​Đôi bàn tay bà, với những ngón gầy khẳng khiu như rễ đước, lúc nào cũng bấu chặt lấy xâu chuỗi hạt bồ đề đen bóng. Các đầu ngón tay vàng khè nhựa trầu và ám đặc mùi khói, cứ vân vê hạt chuỗi liên hồi như một cỗ máy đang đếm nhịp cho sự sụp đổ của gia đình. Mỗi khi bà thầm thì khấn vái, đôi môi thâm sì, héo úa lại run rẩy, để lộ những chiếc răng đen nhẻm, khiến những lời cầu khẩn nghe không giống tiếng người mà giống như tiếng gió tháng cô hồn rít qua kẽ cửa giữa đêm thanh vắng.
 
​Bà mặc bộ đồ bà ba cũ nát, chiếc túi áo luôn cộm lên những gói bùa hộ mệnh bằng vải đỏ. Ở bà toát ra một mùi hương kỳ quái: mùi nhang đốt suốt ngày trên bàn thờ trộn lẫn với mùi dầu cù là và mùi ẩm mốc của những góc tối không bao giờ thấy ánh sáng. Bà không còn đi lại, bà lướt như chạy trong nhà với đôi bàn chân nhỏ thó, khiến tiếng dép kéo lê trên nền gạch tàu nghe nổi gai ốc, tiếng động báo hiệu cho một mệnh lệnh tâm linh mới, một sự áp chế mới sắp đổ xuống cái nhà vốn là bề thế.
 
​Bà Hai Hiền chính là hiện thân của cái cù lao này: già nua, bị vây hãm bởi phù sa của những hủ tục, và đang chìm dần vào hố đen của những ảo tưởng siêu hình, kéo theo tất cả những gì bà hằng yêu thương xuống đáy vực sâu. Cù lao những năm hậu chiến im lìm và ngột ngạt. Nhà bà Hai Hiền chìm vào cơn biến động lớn nhất từ trước đến nay. Ông Hai sau một trận tai biến đã nằm liệt giường, hơi thở khò khè như tiếng bọt nước tan giữa dòng phù sa. Bao nhiêu vốn liếng trong nhà đều đội nón ra đi theo tiền thuốc men cho ông và những chuyến thăm nuôi thằng Út đang ở trại cải tạo. Hai người con gái lớn đã đi lấy chồng nhưng chẳng giúp ích gì được cho gia đình về mặt kinh tế. ​Út, đứa con trai duy nhất, từng là sĩ quan chế độ cũ, giờ là gánh nặng và cũng là nỗi nhục nhã thầm lặng của bà Hai. Trong cơn túng quẫn và tuyệt vọng, bà Hai Hiền không còn tin vào đôi tay mình. Bà bám víu vào khói nhang, tin rằng gia đình lụn bại là do nghiệp chướng binh đao của thằng Út ám vào tổ tiên vì đã cầm súng chiến đấu tước đoạt rất nhiều mạng người. Bà bắt đầu dồn những đồng tiền lẻ cuối cùng vào tay thầy bà, mong cầu một phép màu cứu vãn mái nhà đang tuột dốc. Ngày Út ra trại, anh không còn là gã sĩ quan hào hoa ngày nào. Anh lầm lì, ốm nhách da đen sạm và mang đôi mắt lạnh lẽo của kẻ đã thấy tận cùng sinh tử. Việc đầu tiên anh làm không phải là lấy vợ, mà là gom sạch số vàng dành dụm ít ỏi còn lại để vượt biên. Út thà chết ngoài biển còn hơn sống trong cái không khí nồng nặc mùi tử khí và bùa chú của mẹ. Nhưng biển cả không đón nhận anh. Vượt biên bất thành, Út bị bắt lại, đi tù thêm một đợt trước khi bị tống khứ về lại cù lao trong tư thế kẻ trắng tay. ​Nắm thóp sự thất bại của con, bà Hai Hiền ép Út cưới Thắm, một cô gái nghèo nết na xóm bên. Bà muốn ngăn Út sang nước ngoài, vì vốn dĩ là đứa con trai duy nhất, phải ở lại để lo cho bà, nhà cửa, mồ mả tổ tiên. Bà tin lời cô Năm bán nhang trong xóm đã bói rằng:
 
- Thắm có mạng thủy để dập tắt cái sát tinh nóng nảy của thằng Út.
 
Út chấp nhận cưới Thắm như một cách trả nợ mẹ, sống bên vợ trong sự câm lặng của hai kẻ bị xích vào nhau bởi hủ tục mê tín dị đoan. Hai năm chung sống, Thắm không đậu thai. Bà Hai Hiền tin lời cô Năm, được cô giới thiệu Thầy Hai Thượng, một gã pháp sư vùng Bảy Núi. Khi hẹn ngày gặp mặt tại một quán cà phê của bà Bảy, thầy đã phán rằng:
 
- Thằng Út nặng nghiệp máu nên không có con nối dõi vì rất nhiều người đã ngã xuống trước họng súng của nó.
 
Nghe xong bà Bảy chủ quán cũng ngứa miệng xen vào, vì bà không có cái máu mê tín. Với lại cũng có người con đi học tập cải tạo chưa về:
 
- Nó là lính, không cầm súng chẳng lẽ cầm cuốc. Đất nước trong thời kỳ chiến tranh, không bắn nhau chẳng lẽ ra chửi lộn bằng miệng.
 
Nói rồi bà Bảy quay vô trong làm nước bưng ra. Để lại cái nhìn liếc xéo của thầy Hai Thượng và cô Năm bói tử vi.
 
Một buổi sáng, khi Út phải lên xã trình báo cư trú định kỳ cái vòng kim cô hành chính giữ chân anh suốt nửa ngày bà Hai lén dắt Thắm đi.
 
- Tranh thủ đi theo má để cầu sớm có con, cầu bình an. Thằng Út mà về nó sẽ ngăn cản. Bởi, con người nó vô thần vô thánh. Vì thế nó mới tù tội hết lần này tới lần khác, con thấy không? Do vong nó ám đó.
 
​Bà nói dối là đi chùa cầu an, nhưng thực chất là đưa Thắm vào am vắng của thầy Thượng vì nghe cô Năm coi bói nói thầy Thượng có phép cầu con linh nghiệm lắm. Rất nhiều người đã tới, vài tháng sau họ lại có con. Nếu ai chưa có là do nghiệp quá lớn. Ngay lập tức mẹ chồng và nàng dâu xuống tắc ráng đến An Giang. Tới nơi, trước mắt Thắm là cảnh tượng hết sức rùng rợn, những lá bùa ký hiệu ngoằn ngoèo dán chi chít, mùi khói nhang tỏa ra nghi ngút, rất nhiều người đang đợi chờ ở ngoài với gương mặt rất thành tâm, có người đến trả lễ, có người tới cầu con, trục vong, xin bùa, giải nghiệp, cắt duyên âm. Tất cả đều là phụ nữ và bà già. Phụ nữ thì vào trong buồng, tầm ba mươi phút là xong, người thân đợi ở ngoài không được tự ý bước vào, vì vào sẽ mất linh ứng. Trong gian buồng sực nức mùi nhang nồng, thầy ép Thắm uống ly nước thánh đã chuẩn bị sẵn. Thật ra đây là thuốc ngủ cực mạnh. Thắm lịm đi, trong lúc bà Hai Hiền ở ngoài quỳ lạy bàn thờ để cầu xin linh thai, thì bên trong, thầy Thượng đã thực hiện hành vi đồi bại lên thân xác của Thắm. Hơn mười phút sau Thắm bước ra với tóc tai bù xù, quần áo xộc xệch. Cô nghe mình đau nhói mệt rã rời, đầy óc quay cuồng, nhưng bà Hai Hiền đã nói, phép của thầy đã chính thức vào người cô. Hai mẹ con tức tốc trở về.
 
Khi Út từ xã trở về, anh thấy nhà cửa yên ắng. Bà Hai đang ngồi gọt trái xoài, vẻ mặt thản nhiên như chưa từng rời khỏi hiên nhà. Thắm nằm trong buồng, bà nói:
 
- Con Thắm nó bị trúng gió, đang nghỉ ngơi. Thôi cứ để cho nó ngủ.
 
Út bước vào thấy vợ ngủ mê mệt, hơi thở nặng nề và mùi hương lạ phảng phất trên áo, nhưng anh chỉ nghĩ cô mệt vì lo lắng, làm việc quá sức. Mọi dấu vết của chuyến đi được bà Hai xóa sạch. Bà giấu kín bí mật đó như một báu vật, tin rằng mình đang cứu gia đình khỏi cảnh tuyệt tự. Út vẫn tiếp tục những ngày làm thuê nặng nhọc, hoàn toàn không hay biết vợ mình đã bị biến thành một vật tế thần. Ba tháng sau, Thắm bắt đầu nôn ói. Tin cô có thai nổ ra như một tiếng sét giữa trời quang. Bà Hai mừng rỡ khôn xiết, bà càng tin vào bùa chú của thầy Hai Thượng, nhưng Thắm thì sống trong một nỗi hoang mang tột độ. Cô không nhớ gì về đêm đó, nhưng trong thâm tâm cô có một nỗi sợ vô hình mỗi khi nhìn thấy những lá bùa của mẹ chồng, và cũng lần đó cô nhận ra mình đã bị thầy Thượng xâm hại, vì lúc hai mẹ con về cô cảm nhận được bộ phận sinh dục đau rát, nhưng nói ra thì bị bà mẹ chồng mắng chửi, bà cho rằng đó là phép. ​Út là người đầu tiên nghi ngờ. Với bản năng của một người lính đã từng sống trong kề cận cái chết và sự lừa lọc tâm lý tình báo mà anh đã được đào tạo qua. Anh bắt đầu chắp nối từng chi tiết: Vết bầm nhỏ trên cổ tay Thắm mà cô không giải thích được sau ngày anh đi trình báo ở xã về. Thái độ vồn vã một cách bất thường của bà Hai khi nhắc đến Thầy Thượng cái chuyện đi cúng trả lễ. Quan trọng nhất, kỳ thai của Thắm lại trùng khớp một cách kỳ lạ với ngày anh vắng nhà. Út bí mật đi tìm cái am của Thầy Thượng. Anh rủ thêm bốn người bạn trong xóm. Năm người đàn ông trên một chiếc ghe nhỏ, truy tìm tung tích của ông thầy bùa, phải vất vả lắm họ mới tìm tận nơi. Đó là một cái nhà sàn nằm trong nơi hẻo lánh, nhang khói lúc nào cũng nghi ngút. Họ phát hiện ra thầy không chỉ làm phép cho mình Thắm, mà còn cho nhiều người phụ nữ nhẹ dạ khác dưới cùng một kịch bản: Chuốc thuốc mê và cưỡng đoạt. Út đứng lên vai một người đi cùng, lén đưa mắt nhìn qua khe hở, anh thấy gã thầy pháp đang đếm xấp tiền mà mẹ anh và nhiều người khác đã mang tới, gã còn chưa mặc đồ, trên giường là một nạn nhân nữ trần truồng đang nằm với đôi mắt nhắm nghiền, bên cạnh là những vỉ thuốc ngủ vài viên đã được sử dụng, thứ này sẽ được cạ nhuyễn cho vào ly để nạn nhân uống. Cái gọi là nước thánh đã cướp đi thần trí của vợ anh và nhiều người phụ nữ khác.
 
​Cơn giận bùng phát, nhưng Út không gào thét. Anh bước ra từ bóng tối về phía cầu thang để lên nhà, con dao găm từng cùng anh đi qua những trận chiến, đạp tung cánh cửa với sự hốt hoảng của những người xung quanh đang quỳ lạy, anh kề dao sát vào cổ họng của Thầy Thượng. Giọng anh lạnh lùng:
 
- Nghe nói ông gọi hồn lính về vật tôi phải không? Tôi là lính Thủy Quân Lục Chiến thứ thiệt đây. Ông muốn thử xem lính thật với ma giả, ai đáng sợ hơn không? Tất cả mọi người đang ở ngoài vào xem thần thánh của các người đây.
 
​Dưới áp lực của thép lạnh, lão thầy pháp quỵ xuống, khai ra sự thật trần trụi: Lão đã dùng thuốc ngủ để cưỡng đoạt Thắm trong những buổi làm phép riêng tư, dưới sự canh cửa của chính bà Hai Hiền ở bên ngoài. Lão bị Út đánh một trận tơi bời. Các món võ thuật trong những tháng quân trường cứ thế giáng xuống tới tấp. Những người bên ngoài vào chứng kiến cảnh tượng hết sức kinh hoàng, con gái của họ đã bị lão thầy bùa cưỡng đoạt. Một số người chửi bới rồi lấy tiền về, riêng một bà lão thì ôm mặt khóc nức nở khi thấy con mình trên giường không một mảnh vải che thân, chính bà đã tiếp tay để người ta làm nhục chính con gái của mình. Út ép thầy Thượng phải viết ra lời thú tội rồi điểm chỉ. Út và bốn người bạn lôi Thầy Thượng xuống ghe để về tận nhà giữa đêm. Khi tới nhà, anh ném thầy xuống chân bà Hai Hiền cùng với vài vỉ thuốc ngủ đã sử dụng và chưa cùng tờ giấy thú tội đầy nghiệt ngã. ​Bà Hai nhìn con trai, nhìn lão thầy pháp đang run rẩy, rồi nhìn vào cái bụng lùm lùm của Thắm. Cái lâu đài đức tin của bà sụp đổ, tan thành tro bụi. Bà đã nhân danh tình thương để dẫn con dâu vào miệng cọp, nhân danh thần thánh để rước về một đứa trẻ là kết quả của sự nhơ nhuốc. ​Thắm nhìn Út, cô không khóc nổi nữa. Cô chỉ thì thầm trong nỗi nghẹn ngào:
 
- Sao ngày hôm qua anh không để tui chết luôn cho rồi.
 
Hôm qua Thắm có kể cho anh nghe về những sự việc đã diễn ra về ngày hôm đó rồi cô đòi tự tử, được anh khuyên ngăn.
 
Út đứng giữa gian nhà, bóng anh đổ dài dưới ánh đèn, bao trùm lên bà Hai Hiền đang quỵ lụy dưới chân bàn thờ. Tờ giấy thú tội của lão Thầy Thượng nằm trơ trọi giữa những đĩa trái cây cúng tạ. Không gian im lìm đến mức nghe rõ cả tiếng tiếng thở dốc đầy nhục nhã của gã thầy bùa. Út nhìn bà, ánh mắt anh không còn sự giận dữ, mà chỉ còn một nỗi ghê tởm lạnh lẽo. Anh cất giọng, khàn đặc như tiếng gạch vụn nghiền trên sỏi:
 
​- Má nhìn cho kỹ đi. Đây là cái phúc mà má lén lút dắt vợ con đi cầu về đó?
 
​Bà Hai Hiền run rẩy, tay bám chặt vào chân bàn, giọng đứt quãng:
 
- Má... má cũng chỉ vì muốn tốt cho cái nhà này... Má sợ mày tuyệt tự, sợ mày nặng nghiệp lính rồi không có con nối dõi... Thầy nói đó là cách duy nhất...
 
​Út nhếch mép, nụ cười méo mó:
 
- Vì cái nhà này? Má vì cái nhà này mà đem vợ con dâng cho một con quỷ? Má có biết lúc con đi trình báo xã, con lo cho má, lo cho vợ ở nhà bao nhiêu không? Con đi cải tạo về, con chỉ muốn làm một người bình thường, vậy mà má lại biến con thành một thằng chồng bị cắm sừng bởi chính má ruột của mình. Má thấy trên đời này có ai như vậy không?
 
​Bà Hai Hiền gào lên, tiếng khóc nghẹn trong cổ họng:
 
- Má không biết! Má tưởng đó là phép mầu thiệt mà Út ơi!
 
​- Phép mầu?
 
Út cắt ngang, giọng anh đanh lại như thép nguội:
 
- Trên đời này làm gì có phép mầu nào nồng nặc mùi thuốc ngủ rồi hiếp dâm nhơ nhuốc như vậy? Má không tin con, người từng đi qua hầm chông bãi mìn, các trại cải tạo để về với má. Má lại đi tin một thằng bịp bợm chỉ biết lừa đàn bà con gái để thỏa mãn thú tính lại có tiền. Cái thai trong bụng Thắm... nó là bằng chứng cho sự ngu muội của má. Nó sẽ lớn lên và mỗi lần má nhìn vào mặt nó, má sẽ thấy lại cái đêm má đứng canh cửa cho thằng lừa bịp này hãm hiếp con dâu má.
 
​Bà Hai Hiền ôm mặt khóc rống lên, nhưng Út đã quay lưng. Anh dắt Thắm, lúc này đang đứng tựa vào liếp cửa khóc rưng rưng, gương mặt trắng bệch như người chết trôi. Anh nắm lấy bàn tay lạnh ngắt của vợ, siết chặt.
 
​- Em có dám đi với tui không? Sẽ rất nguy hiểm, nhưng thà vậy còn hơn. Nhà này hết chỗ cho mình thở rồi.
 
Thắm nghẹn ngào lau nước mắt:
 
- Em là vợ anh. Anh đi tới đâu em theo đó. Dù có chết cũng được.
 
​Bà Hai Hiền lết theo, nắm lấy gấu quần Út:
 
- Út! Mày đi rồi má sống với ai? Mày bỏ má một mình sao?
 
​Út đứng lại, nhưng không quay đầu. Anh nhìn ra dòng sông Tiền đang chảy xiết trong đêm:
 
- Má ở lại với thần thánh của má đi. Con đã chết nhiều lần trong chiến tranh, trại cải tạo, vượt biên ngoài biển khơi rồi, giờ con phải sống. Đứa trẻ này... nó không có tội. Vợ chồng con sẽ nuôi nó, nó vẫn mang họ nhà này, và nó sẽ không bao giờ biết đến cái tên của bà nội, cũng như cái nơi khói nhang mị dân này.
 
​Út vô buồng gom đồ rồi dắt Thắm bước xuống bến sông. Tiếng máy nổ xé toạc màn đêm tĩnh mịch của cù lao. Chiếc ghe lao đi, bỏ lại phía sau ngôi nhà ba gian ám khói nhang và một người đàn bà đang điên cuồng đốt sạch những lá bùa trong nỗi tuyệt vọng tột cùng. Bốn người đàn ông giữ chặt cổ áo thầy Hai Thượng rồi liên tục những cú đấm của sức trai trẻ giáng vào người gã thầy bùa. Kèm với những tiếng nói đầy phẫn nộ:
 
- Má mày! Bùa nè…phép nè…biến đi mày, tại sao không biến, độn thổ đi. Bay đi. Mày thần thông quảng đại, phép thuật vô biên lắm mà. Xách đầu nó lên công an.
 
Bốn người đàn ông giải gã thầy bùa đi trong đêm. Sáng hôm qua bà Năm coi bói cũng biến mất. Những nạn nhân tới tìm thì căn nhà đã trống hoác, bà đã tháo chạy khi nghe động tĩnh. Thì ra bà và thầy Hai Thượng chung đường dây, bà dắt mối nhằm chia tiền phần trăm. Tại am của thầy Hai Thượng, người ta vây quanh, những người đàn ông mang theo cây, dao, rựa, quyết lấy lại công bằng cho những nạn nhân, nhưng cái am bây giờ cũng chẳng còn ai. Người ta cay đắng nhận ra, đứa con họ hết mực thương yêu, lại là sản phẩm của gã thầy bùa.
 
Chiếc ghe nhỏ xé màn sương đêm trên sông Tiền, mang theo Út và Thắm tan vào cõi mù mịt. Họ không đi tìm một vùng kinh tế mới để an phận thủ thường. Với bản tính lỳ lợm của một người lính đã nếm trải đủ đắng cay, Út đưa Thắm giạt về những xóm chài nghèo xơ xác ven biển vùng Rạch Giá. Ở đó, giữa những thân tàu mục nát và mùi mắm nồng nặc, họ vùi mình vào những công việc nặng nhọc nhất: Út đi biển thuê, đối mặt với sóng dữ và những lọng đèn tuần tra. Thắm cặm cụi cùng với những người phụ nữ đan lưới, đôi bàn tay từng trắng trẻo giờ chằng chịt vết xước vì sợi cước mặn. Tất cả chỉ để chắt bóp từng chỉ vàng, nuôi dưỡng một giấc mơ duy nhất: Vượt biên lần nữa. Họ không chạy trốn nghèo đói, họ chạy trốn những bóng ma tâm linh và vết dơ mà lão thầy bùa đã để lại. Đứa bé trong bụng Thắm ngày một lớn dần, Út chăm sóc cô bằng một sự lầm lì đầy trách nhiệm. Với anh, đó không phải là con của kẻ thù, mà là một sinh linh tội nghiệp cần được đưa đến một bến bờ nơi nó không bao giờ phải quỳ lạy trước những hình nhân giấy xanh đỏ.
 
​Tại cù lao, căn nhà ba gian giờ lạnh lẽo như một ngôi mộ cổ. Ông Hai đã ra đi trong một đêm gió mang sự câm lặng cuối cùng xuống lòng đất lạnh. Chỉ còn lại bà Hai Hiền. Bà không còn tụng kinh, không còn đốt nhang. Những lá bùa vàng võ ngày nào giờ bị bà tự tay đốt sạch từ đêm đó. ​Bà Hai thường ngồi bất động bên bến sông, đôi mắt mờ đục nhìn trân trối về phía hạ nguồn. Mỗi khi thấy một chiếc ghe lạ đi ngang, bà lại lật đật chạy ra, miệng lẩm bẩm những lời xin lỗi không thành tiếng. Bà hối hận không phải vì mất đi một đứa con nối dõi, mà vì nhận ra rằng chính bàn tay bà, bàn tay đã từng ru con ngủ, lại là bàn tay dẫn quỷ vào nhà hãm hại chính con mình. Sự cuồng tín đã thiêu rụi gia đình, để lại một người đàn bà điên dại giữa đống tro tàn của đức tin giả tạo. Đêm đêm, bà nghe tiếng máy nổ vang vọng từ phía xa, lại giật mình tưởng tiếng vỏ lãi của Út trở về. Nhưng dòng sông Tiền vẫn chảy lặng lẽ, mang theo bí mật nhơ nhuốc của một đời mê muội trôi ra biển cả. Phía cửa biển xa xăm kia, Út vẫn đang đứng trên mạn thuyền, mắt nhìn vào chân trời tối thẫm, chờ đợi một chuyến tàu định mệnh để đưa vợ rời khỏi vùng đất này bỏ lại những đau khổ. Quê nhà tại bến sông, chiều chiều bà Hai Hiền đứng trơ trọi như một gốc tràm khô. Bà nhìn cái bóng nhỏ nhoi của những chiếc ghe xa dần, rồi nhìn xuống dòng nước dưới chân mình. Nước vẫn chảy xuôi, nhưng đời bà thì đã đứt đoạn từ giây phút đứa con trai duy nhất quyết định chèo lái ngược dòng dù có bão giông. Họ hiểu tự do là một cuộc hành xác đầy cam go. Nó anh dũng hơn sự phục tùng, phía trước đầy rẫy những xoáy nước hung hiểm sẵn sàng nhấn chìm kẻ dám đi ngược. ​Nhưng giữa cái gian nan cùng cực ấy, khi ánh đèn của nhà bà Hai Hiền chỉ còn là một chấm nhỏ li ti rồi tắt ngấm phía chân trời mất hẳn, họ lại thấy dễ thở. Tự do thực sự không phải là tìm thấy một vùng đất hứa, mà là lòng can đảm để chèo lái con tàu đời mình thoát khỏi vùng đau thương, rời xa cái bến đỗ mù quáng, dù có phải trả giá bằng ngược dòng lênh đênh.
 
Quang Nguyễn
 
Nguồn: Fb Quang Nguyễn