
2015-2025. Giai Đoạn “Không Gian Mạng” Toàn Cầu
Nguyễn Hàn Chung từ khi định cư tại Hoa Kỳ, xuất bản Dự Cảm Rời (NXB Bản Sắc Việt 2016), Lục Bát Tản Thần (1; NXB Bản Sắc Việt-2018; 2, 2022), Mót Chữ Trong Kinh (1; 2022; 2; 2023), Màu Sương Riêng Rớt (2024),…
Cao Nguyên (Võ Tiến) tác giả Nhà Việt Nam/ Vietnam My Homeland (thơ song ngữ; Về Nguồn, 2017); Huyền Thoại Tình (2024); Thao Thức (2014); Hành Trình Nhân Ái (văn xuôi; Giao Chỉ, 2017),…
Thơ Cao Nguyên nói lên tiếng nói thất thế, bất phùng thời, nhưng tự hào và giữ phong cách trượng phu. Như khi nghĩ về sứ mệnh nhà thơ đối với sử sách non sông:
“Theo dòng thi sử xem kỳ tích
trống Phú Xuân, vó ngựa Thăng Long
thuở dựng nước trời xanh ngọc bích
thời xây non đất ánh hồng tâm
trống Phú Xuân, vó ngựa Thăng Long
thuở dựng nước trời xanh ngọc bích
thời xây non đất ánh hồng tâm
Truyền thuyết Âu Cơ, lời linh hiển
kẻ lên non, người ra biển tạo đời
kẻ lên non quên lời mẹ dặn
khi vỡ nương, chặt đứt dây nôi
kẻ lên non, người ra biển tạo đời
kẻ lên non quên lời mẹ dặn
khi vỡ nương, chặt đứt dây nôi
Đất vỡ mạch, đời lầm than quá đỗi
hồng hạc bay cánh mỏi nhớ rừng ngô
trên phế tích quách thành chen cỏ rối
người trầm ưu, mùa đợi gió hong mồ
hồng hạc bay cánh mỏi nhớ rừng ngô
trên phế tích quách thành chen cỏ rối
người trầm ưu, mùa đợi gió hong mồ
Nghiêng bia vỡ, soi trăng tìm cổ tự
viết lại dòng thi sử đã mờ rêu
thắp sáng trầm hương ngày tháng cũ
rọi đường cô phụ trở về kinh!
viết lại dòng thi sử đã mờ rêu
thắp sáng trầm hương ngày tháng cũ
rọi đường cô phụ trở về kinh!
(Thi Sử, Thao Thức, tr. 16)
Nơi xứ người, những khi có bạn đối ẩm nói chuyện xưa, chỉ tăng những nổi buồn đau:
“Dưới trăng uống rượu! Ừ, nghe khoái
bạn cũ xin mời nói tích xưa
nhớ thuở Nữ Oa đầu đội đá
chưa vá xong trời, đất sũng mưa
bạn cũ xin mời nói tích xưa
nhớ thuở Nữ Oa đầu đội đá
chưa vá xong trời, đất sũng mưa
Từ đó trần gian cuồng bão lũ
mượn cầu Ô Thước để sang sông
ngặt nỗi thời gian luân chuyển mộng
ngỡ hợp đành tan buốt nhói lòng
mượn cầu Ô Thước để sang sông
ngặt nỗi thời gian luân chuyển mộng
ngỡ hợp đành tan buốt nhói lòng
May còn mớ chữ treo trong trí
mỗi nhớ tương đồng hạ bút ngân
nghe tiếng phong linh ngờ ngựa hí
chiêu tình tri kỷ tựa hàn song
mỗi nhớ tương đồng hạ bút ngân
nghe tiếng phong linh ngờ ngựa hí
chiêu tình tri kỷ tựa hàn song
Cuồng say thơ rượu soi hình bóng
ngắm nghía xem chừng chẳng khác xưa
chỉ thoáng mi người vương ngấn lệ
phải chăng bữa rượu uống chưa vừa!”
ngắm nghía xem chừng chẳng khác xưa
chỉ thoáng mi người vương ngấn lệ
phải chăng bữa rượu uống chưa vừa!”
(Dưới Trăng Uống Rượu, Thao Thức, tr. 260)
“Em từ lục bát bước ra
thấy ta ngồi giữa hằng hà nhạc thơ
Em cười bảo chớ quẩn mơ
đời kinh vần điệu, tình ngơ ngẩn lời
thấy ta ngồi giữa hằng hà nhạc thơ
Em cười bảo chớ quẩn mơ
đời kinh vần điệu, tình ngơ ngẩn lời
Em từ lục bát ghé chơi
thấy ta ngồi đếm thì thời đã qua
Em cười bảo cứ nhẩn nha
trăm năm chưa tận còn tha thiết tình
thấy ta ngồi đếm thì thời đã qua
Em cười bảo cứ nhẩn nha
trăm năm chưa tận còn tha thiết tình
Em từ lục bát đứng nhìn
thấy ta ngồi ngắm chu trình hoại sinh
Em cười bảo chớ giật mình
có không không có cứ bình sinh ngơi
thấy ta ngồi ngắm chu trình hoại sinh
Em cười bảo chớ giật mình
có không không có cứ bình sinh ngơi
Em từ lục bát ru đời
thấy ta đắm mắt ngắm trời ngã Thu
Em cười bảo chớ ưu tư
khởi lên tình khúc sương mù sẽ tan!”
thấy ta đắm mắt ngắm trời ngã Thu
Em cười bảo chớ ưu tư
khởi lên tình khúc sương mù sẽ tan!”
(Em Từ Lục Bát Bước Ra, Huyền Thoại Tình, tr. 224)
Hành Trình Nhân Ái được tác giả giới thiệu: “Trên hành trình hướng về quê hương với hành trang khát vọng tự do. Tôi vẫn mãi đi tìm những người bạn cũ và mới còn đủ tin yêu với Đất và Người. Vừa để chia sẻ tâm tư của một chiến binh giữ nước không thành bởi cả hai nguyên nhân nội và ngoại quan; Vừa để mong cầu sự nhiệt tâm tiếp truyền “Dòng Máu Lạc Hồng” về với mai sau. Nơi mà những khát vọng gặp nhau hoan hỉ đồng ca bài “Mẹ Việt Nam”. Nhờ duyên chữ nghĩa, và cơ may của niềm khát vọng. Tôi đang gặp những người bạn trẻ rất nhiệt tâm với quê hương và dân tộc. Tôi đã ngắm những người bạn trẻ mà tôi gặp trên online qua những con chữ mà họ treo trên tường mỗi căn nhà. Rất đẹp với những ân tình luân chuyển theo mạch thời gian. … Nhân Ái sẽ thắng trong cuộc chiến tranh Nhân Bản chống bạo tàn và tội ác”.
Lê Mai Lĩnh là bút hiệu ở hải ngoại và Sương Biên Thùy trước 1975, tên thật Lê Văn Chính (1942, Quảng Trị –) sau tập “phóng bút” Đứng Ngồi Không Yên (1999), ông xuất bản các tập thơ Thơ Tình Thế Kỷ (chung với Vương Lệ Hằng; 2015); Lương Quyên Cô Láng Giềng (ký Sương Biên Thùy; 2016); Tuyển Tập Lê Mai Lĩnh “thơ văn và tiểu luận” từ những ấn phẩm từ trước (Cội Nguồn, 2015) và Thơ Tình (2024). Ngoài ra ông còn là tác giả những Nguyễn Thị Sầm, Những Dấu chân Dọc đường Kháng chiến (2024), Hãy Cho Tổ Quốc Mượn Đôi Chân Của Bạn (2024) gồm “thơ, bút chiến và tiểu luận chính trị”. Ấn phẩm đều do nhà ÝTrời của ông xuất bản, ngoài ra có tuyển tập Phóng Bút Văn Chương, 20 chân dung thơ văn qua cảm nhận của Lê Mai Lĩnh (LOVE publishing, 2025).
Nhà thơ sau 13 năm tù “cải tạo” đã trở về quê nhà trên Chuyến Tàu Cuối Năm:
“Về quê hương vào những ngày cuối năm
Trên con tàu chở đầy xiềng xích
Xin vĩnh biệt chào vương quốc lừa dối
Trả lại Người những đói rét hờn căm
Trên con tàu chở đầy xiềng xích
Xin vĩnh biệt chào vương quốc lừa dối
Trả lại Người những đói rét hờn căm
Mai ta đi từ bóng tối mù tăm
Nơi ta về quê miền Nam yêu dấu
Hãy ở lại những đói nghèo đau thương ẩn náu
Chia tay nghe, vĩnh biệt yên nằm
Nơi ta về quê miền Nam yêu dấu
Hãy ở lại những đói nghèo đau thương ẩn náu
Chia tay nghe, vĩnh biệt yên nằm
Chào không chút xót thương núi rừng Việt Bắc
Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Lào Cai
Chào Vĩnh Phú, Thanh Phong, Thanh hoá
Còn trong ta cơn ác mộng chưa phai
Hoàng Liên Sơn, Yên Bái, Lào Cai
Chào Vĩnh Phú, Thanh Phong, Thanh hoá
Còn trong ta cơn ác mộng chưa phai
Chào bo bo, chào sắn khoai, bắp xay bắp hột
Vĩnh biệt nghe nước muối đại dương
Chào rau tàu bay, lá đay rừng chua xót
Khi nghĩ về lạnh buốt khớp xương
Vĩnh biệt nghe nước muối đại dương
Chào rau tàu bay, lá đay rừng chua xót
Khi nghĩ về lạnh buốt khớp xương
Mai ta đi chào những ngôi giáo đường
Đứng lạnh lùng giữa hoang tàn cỏ dại
Hãy ở lại nghe những nghiêng chùa đổ chái
Áo rêu phong khép kín niềm thương (…)
Đứng lạnh lùng giữa hoang tàn cỏ dại
Hãy ở lại nghe những nghiêng chùa đổ chái
Áo rêu phong khép kín niềm thương (…)
Này các em ở sân ga Đà Nẵng
Có bao lăm lời lỗ thế nào
Mà em ném cho ta bao thuốc tặng
Nhỡ công an thấy được làm sao
Có bao lăm lời lỗ thế nào
Mà em ném cho ta bao thuốc tặng
Nhỡ công an thấy được làm sao
Này các em nhỏ ở sân ga Nha Trang
Em hát những gì nghe sao ngộ nghĩnh
Em giận đời chăng rằng em bị phỉn
“Như có Bác Hồ trong thùng phuy đậy nắp
Mở nắp ra nghe cái cốc trên đầu”
Em hát những gì nghe sao ngộ nghĩnh
Em giận đời chăng rằng em bị phỉn
“Như có Bác Hồ trong thùng phuy đậy nắp
Mở nắp ra nghe cái cốc trên đầu”
Em hát lạ lùng giữa một đám đông
Đứng vẫy tay chào các anh trở lại
Trong lòng ta từ nay sống mãi
Tình quê hương lòng đồng bào miền Nam
Trong nỗi đau quân cướp Đỏ bạo tàn (…)
Đứng vẫy tay chào các anh trở lại
Trong lòng ta từ nay sống mãi
Tình quê hương lòng đồng bào miền Nam
Trong nỗi đau quân cướp Đỏ bạo tàn (…)
Thép đã tôi lưỡi gươm này phải sắc
Phải rắn, phải chắc, phải bền lòng, dũng cảm
Đường gươm đi phải đẹp
Phải làm lại từ đầu, với cái giá đã mua
Phải làm lại, từ đầu, đừng để lòng già nua
Tóc dẫu bạc, nhưng lòng thanh niên trẻ lại
Trên bước đường đi, trong trái tim đời thoải mái
Ta hiên ngang, chững chạc, đàng hoàng
Ta đã về, khi quân cướp hoang mang
Ta đã về, với niềm tin tất thắng
Phải rắn, phải chắc, phải bền lòng, dũng cảm
Đường gươm đi phải đẹp
Phải làm lại từ đầu, với cái giá đã mua
Phải làm lại, từ đầu, đừng để lòng già nua
Tóc dẫu bạc, nhưng lòng thanh niên trẻ lại
Trên bước đường đi, trong trái tim đời thoải mái
Ta hiên ngang, chững chạc, đàng hoàng
Ta đã về, khi quân cướp hoang mang
Ta đã về, với niềm tin tất thắng
Về quê hương, vào những ngày cuối năm
Dẫu trong tay xích xiềng còn trói chặt
Nhưng trong lòng ta bao nỗi hân hoan
Khi thấy dấu bạo tàn sắp tắt” – 1981
Dẫu trong tay xích xiềng còn trói chặt
Nhưng trong lòng ta bao nỗi hân hoan
Khi thấy dấu bạo tàn sắp tắt” – 1981
Trại tù Gia Rai, Z30A (Thơ Tình Lê Mai Lĩnh, tr. 124, 126, 127).
Nhà thơ đã có Lời Tạ Lỗi Với Quê Hương khi phải rời bỏ quê hương định cư nơi xứ người – Hoa Kỳ, đầu năm 1994:
“Dẫu thế nào tôi cũng phải đi
Đành đoạn ra đi
Thà chọn cho mình một kiếp lưu đày
Hơn bị lưu đày trên chính quê hương
Hãy thông cảm và tha thứ cho tôi
Nguyễn Hoàng ơi, Việt Nam ơi, Việt Nam ơi
Xin đừng gọi tôi là tên đào ngũ
Dù ở nơi nào trên mặt đất này (…)
Đành đoạn ra đi
Thà chọn cho mình một kiếp lưu đày
Hơn bị lưu đày trên chính quê hương
Hãy thông cảm và tha thứ cho tôi
Nguyễn Hoàng ơi, Việt Nam ơi, Việt Nam ơi
Xin đừng gọi tôi là tên đào ngũ
Dù ở nơi nào trên mặt đất này (…)
Tôi ra đi mang theo nửa trái tim
Nửa còn lại giữ giùm tôi nhé
Tôi ra đi mang theo cả quê hương
Vẫn chưa đủ ấm lòng tôi đó
Nguyễn Hoàng ơi, Quảng Trị ơi, Việt Nam ơi
Làm sao tôi có thể quên (…)
Nửa còn lại giữ giùm tôi nhé
Tôi ra đi mang theo cả quê hương
Vẫn chưa đủ ấm lòng tôi đó
Nguyễn Hoàng ơi, Quảng Trị ơi, Việt Nam ơi
Làm sao tôi có thể quên (…)
Làm sao tôi có thể quên
Làm sao tôi không nhớ
Nguyễn Hoàng, Quảng Trị, Việt Nam chiến tranh
Những cha con, chồng vợ, cháu chắt, ông bà
Bồng bế, gồng gánh, chân đất đầu trần
Đói khát khóc la và gào thét
Đi trên mìn chông, đi trong đạn lạc
Đi giữa bom napal, đi cùng tiếng đại bác
Đi suốt con đường khổ nạn, trầm luân
Bên thây người lăn lóc
Bên thây người thối rữa
Bên thây người tanh hôi
Và những em thơ gào la bên xác mẹ
không còn giọt sữa
Đại lộ Kinh Hoàng
Quảng Trị quê tôi trong ngút trời lửa đạn (…)
Làm sao tôi không nhớ
Nguyễn Hoàng, Quảng Trị, Việt Nam chiến tranh
Những cha con, chồng vợ, cháu chắt, ông bà
Bồng bế, gồng gánh, chân đất đầu trần
Đói khát khóc la và gào thét
Đi trên mìn chông, đi trong đạn lạc
Đi giữa bom napal, đi cùng tiếng đại bác
Đi suốt con đường khổ nạn, trầm luân
Bên thây người lăn lóc
Bên thây người thối rữa
Bên thây người tanh hôi
Và những em thơ gào la bên xác mẹ
không còn giọt sữa
Đại lộ Kinh Hoàng
Quảng Trị quê tôi trong ngút trời lửa đạn (…)
Bài thơ này như một quà tặng trước giờ lên đường
Con xin gởi lại thầy cô và bè bạn
Anh gởi lại cho em
Như nửa trái tim lưu luyến
Cùng với nỗi xót xa
Con xin gởi lại thầy cô và bè bạn
Anh gởi lại cho em
Như nửa trái tim lưu luyến
Cùng với nỗi xót xa
“Trường đã mất và tên trường cũng không còn”
Nguyễn Hoàng ơi lẽ nào như thế mãi
Và vấn đề hôm nay
Đâu là sứ mệnh của chúng ta”
Nguyễn Hoàng ơi lẽ nào như thế mãi
Và vấn đề hôm nay
Đâu là sứ mệnh của chúng ta”
(Tuyển Tập Lê Mai Lĩnh, tr.175, 178, 179).
Hà Nguyên Du đã không ngừng ở các thử nghiệm thơ ca, mà đi xa hơn trong dòng thơ Tân Hình thức với Gene Đại Dương (Tạp chí Thơ, 2003; Nhân Ảnh, 2017) và Vầng Thơ Trên Đóa Quỳ Vàng (VHM, 2018). Năm 2021, theo thị hiếu chung in toàn tập, ông xuất bản Thơ Toàn Tập gồm bốn tập thời hải-ngoại, cả tập đầu Lối Khác – chốn “thơ ta / mãi ngát hương, hiền / khai thông / cho máu trăm miền về tim …” (Thơ Ta), như ghi dấu đam mê thi ca và nghệ thuật của ông, là hành trang nhà thơ đi từ những thể loại lục bát, tự do, cả thơ cũ, thơ vần và (tạm?) dừng lại với Tân Hình thức – cuộc hành trình đi tìm giá trị thi tính bằng cách trở về đời sống hiện thực và thế gian thường ngày, nơi thơ trở thành truyện kể có khi dài số câu. Bài Những Con Chữ Mầu Nhiệm đã như một “tuyên ngôn”. Và cũng như nhiều nhà thơ từ thời “lão hoá” ở hải ngoại, ông muốn đưa nhạc tính vào để chứng tỏ chất nhạc và khai mở lối thoát mới cho thơ Tân Hình thức: ông đưa thơ vào / nhập làm một với đờn ca tài tử, trong một số bài, như Tân Hình Thức và Thi Ca Tân Cổ Chân Trời Mới, v.v.
Đặng Toản (1960, Nha Trang – ) định cư tại Hoa Kỳ 2003, có Lục Bát Đặng Toản (2019), Ngồi Nhớ Ca Dao (thơ lục bát; 2022), Xếp Màu Cho Tuổi (thơ 1982-2022; 2022), Ẩn Thoại Đêm (2024) đều do NXB Nxb Hoa-Kỳ. Trích bài Buồn Chi Lạ Tháng Tư:
“Anh đang ước một ngày mưa tháng Sáu
Rửa tan trên phần mộ tháng Tư gầy
Chư thiên xuống trao đời cây viết báu
Chép hịch truyền, an trăm họ Đông Tây
Rửa tan trên phần mộ tháng Tư gầy
Chư thiên xuống trao đời cây viết báu
Chép hịch truyền, an trăm họ Đông Tây
Anh vốn biết quê hương mình nhược tiểu
Chú vịt con trước một lão ngan cuồng
Như gà trống núp dưới chân đà điểu
Nên ngàn năm dân tộc ngậm hờn suông
Chú vịt con trước một lão ngan cuồng
Như gà trống núp dưới chân đà điểu
Nên ngàn năm dân tộc ngậm hờn suông
Thế kỷ trước vương xích xiềng viên mãn
Dân Nam mình máu lệ buổi cơm chan
Thời quá độ dài lê thê hung hãn
Cú hồi thương tư bản độc vô vàn
Dân Nam mình máu lệ buổi cơm chan
Thời quá độ dài lê thê hung hãn
Cú hồi thương tư bản độc vô vàn
Anh chẳng thích nghe theo lời phủ dụ
Rằng quê hương đang sắp sửa hoá rồng
Trăng liềm đỏ nhìn sao vàng quá đủ
Bày thêm chi vòng số tám mênh mông
Rằng quê hương đang sắp sửa hoá rồng
Trăng liềm đỏ nhìn sao vàng quá đủ
Bày thêm chi vòng số tám mênh mông
Anh không dám ngước nhìn quê trẩy hội
Lòng buồn như trẻ nít chịu tang cha
Xin cúi xuống nhìn miền Nam hấp hối
Tháng Tư về, nỗi nhớ lại đi qua
Lòng buồn như trẻ nít chịu tang cha
Xin cúi xuống nhìn miền Nam hấp hối
Tháng Tư về, nỗi nhớ lại đi qua
Anh sợ hãi một chiều thu lá nám
Cố cung buồn, vương đế cũng lao lung
Con mắt bão băng qua trời nắng xám
Bao anh tài đất nước rụng như sung
Cố cung buồn, vương đế cũng lao lung
Con mắt bão băng qua trời nắng xám
Bao anh tài đất nước rụng như sung
Anh đâu dám viết bài thơ chém gió
Buổi dịch tràn nhân loại khổ đau chung
Bước lầm lẫn đầu tiên hang khốn khó
Để muôn đời huynh đệ chẳng tương dung”
Buổi dịch tràn nhân loại khổ đau chung
Bước lầm lẫn đầu tiên hang khốn khó
Để muôn đời huynh đệ chẳng tương dung”
– Richmond, 21-4-2020 (Xếp Màu Cho Tuổi)
Phạm Hồng Ân thêm Viết Lại… Từ Lịch Sử (Hiên Thư Các, 2024), v.v.
Đức Phổ thời này có Tuyển Tập Thơ Đức Phổ (Văn Học Mới, 2020).
Phương Tấn (Nguyễn Tấn Phương; 1946, Đà Nẵng – ); thời hải ngoại đã xuất bản Lục Bát Phương Tấn (Nhân Ảnh, 2018, tb 2023); Di Bút Của Một Người Con Gái, thơ tình của Thái Thị Yến Phương (2017, tb NA, 2024); Lung Linh Tình Đầu (NA, 2023); Thưa Mẹ (“Tuyển tập thơ văn”;2018, tb 2024); Thơ Phương Tấn (1; 2023), Vớt Bình Minh Trong Đêm (NA, 2024); Chết Sững Giữa Cơn Mơ (NA, 2024), …
Ghi nhận Túy Ngọa Sa Trường Quân Mạc Tiếu:
“Từ tâm thu lại di truyền
Chân con giải phóng bóng thuyền vong lưu
Hồn xô tay phất oan cừu
Tiền thân tự đó thu mình quạnh hiu
Ý lao lung, ý tiêu điều
Ý trong lưng ngựa dập dìu thổi lên
Mạng buồn một kiếm lênh đênh
Một gươm vóc nọ trôi lên chiến trường
Đạn chim chíp, vỗ hoàng lương
Thây lăn lóc, vỗ thiên đường hò reo” (Ngôn Ngữ 34, tr. 71)
Chân con giải phóng bóng thuyền vong lưu
Hồn xô tay phất oan cừu
Tiền thân tự đó thu mình quạnh hiu
Ý lao lung, ý tiêu điều
Ý trong lưng ngựa dập dìu thổi lên
Mạng buồn một kiếm lênh đênh
Một gươm vóc nọ trôi lên chiến trường
Đạn chim chíp, vỗ hoàng lương
Thây lăn lóc, vỗ thiên đường hò reo” (Ngôn Ngữ 34, tr. 71)
Nhà thơ thương Mẹ, có cả một tuyển tập thơ văn (Thưa Mẹ); đây ghi lại bài Yêu Mẹ, Chỉ Mẹ Thôi:
“Tuột xuống tuột xuống nữa
Rơi tõm giữa hố đời
Lọt thỏm thềm địa ngục
Ngộp ngụa những bụi tro.
Rơi tõm giữa hố đời
Lọt thỏm thềm địa ngục
Ngộp ngụa những bụi tro.
Không ngủ cũng chẳng thức
Không bóng cũng chẳng hình
Sững hồn và mê sảng
Mịt mùng nẻo vô minh.
Lọt thỏm thềm địa ngục
Mẹ đâu, ôi Mẹ đâu?
Vọng âm từ ánh chớp
Cửa tâm mở nghiệp lành!
Vọng âm từ ánh chớp
Nghiệp lành mở cửa tâm
Lấp lánh từ chánh nghiệp
Rợp bóng Mẹ trong tôi.
Yêu Mẹ. Chỉ Mẹ thôi!” – 2023
Võ Thạnh Vân (1949, Quảng Ngãi – ), hiệu Phù Hư Dật Sĩ, cựu sĩ quan Không quân QL/VNCH, định cư ở Hoa-Kỳ từ 1975 và xuất hiện trên trường văn trận bút từ đầu thập niên 1980 và đã xuất bản tuyển thi Mặc Niệm (Nhân Ảnh, 2020) và trường thi Ngỡ Mắt Môi Xưa (Hồng Đức, 2024) [Trước đó nhà thơ cũng đã ấn hành trong nước Kinh Vô Thường (2016), trường thi lục bát với 2500 đoạn, mỗi đoạn 4 câu]. Trích bài Xưa Sau:
“Khi xưa gọt tóc lên rừng
Ngủ trong hang động nửa chừng mây trôi
Khuya nghe đá ngáp bồi hồi
Chập chờn bóng nguyệt mờ trôi giang đầu
Ngủ trong hang động nửa chừng mây trôi
Khuya nghe đá ngáp bồi hồi
Chập chờn bóng nguyệt mờ trôi giang đầu
Tịch hoang sương đắp nhịp cầu
Mây vầng khói núi vờn chau đá buồn
Bao mùa khe lạch ngầm tuôn
Gom đầy sông rót xa nguồn mạch tươi
Mây vầng khói núi vờn chau đá buồn
Bao mùa khe lạch ngầm tuôn
Gom đầy sông rót xa nguồn mạch tươi
Mai ta để tóc xuống đời
Hỏi thăm phố chợ giữa trời còn không
Hỏi thăm em đã thay lòng
Hỏi thăm con nước đổi dòng bao phen
Hỏi thăm phố chợ giữa trời còn không
Hỏi thăm em đã thay lòng
Hỏi thăm con nước đổi dòng bao phen
Hỏi người dệt lụa bến trăng
Trữ La Thôn có còn hằn dấu chân
Một đêm nằm mộng mấy lần
Đâu người gác phụng đền lân thuở nào
Trữ La Thôn có còn hằn dấu chân
Một đêm nằm mộng mấy lần
Đâu người gác phụng đền lân thuở nào
Xem chừng nửa cuộc chiêm bao
Bước chân một thuở còn chao sóng cồn
Xưa sau một thoáng gợn buồn
Cánh âu phi xứ chợt buông tiếng khàn (19)
Bước chân một thuở còn chao sóng cồn
Xưa sau một thoáng gợn buồn
Cánh âu phi xứ chợt buông tiếng khàn (19)
Ngỡ Mắt Môi Xưa dụng những câu 4 chữ để giải tỏ một tâm hồn phương Đông huyền bí mà trầm lắng khiến đi sâu vào hồn người thưởng ngoạn – nhịp thơ ngắn, đều, để kể lể, để tưởng nhớ… Trích đoạn kể thuở học trò có thể xét là cứ như Phạm Thiên Thư đa tình, nhưng ở Võ Thạnh Vân cõi tình sâu lắng hơn, nhân sinh hơn, mà ngôn từ cũng độc đáo, điêu luyện hơn nhiều:
1.
ngỡ mắt môi xưa / về trong nắng nhuộm
sân trường phượng ướm / màu phấn son đưa
2. mắt có về không … / môi chưa thấy tới
tay xa vời vợi / dài mỏi mắt trông
3. ta thấy em về / trong cơn mê tỉnh
má môi tròn trĩnh / ứa nắng chiều quê
4. ta mơ thấy em / má môi mọng chín
đôi tay phong kín / như búp sen đêm
5. ta thấy em qua / bước chân kiêu dị
thiên kiều bá mị / hài ngọc rụng hoa (…)
sân trường phượng ướm / màu phấn son đưa
2. mắt có về không … / môi chưa thấy tới
tay xa vời vợi / dài mỏi mắt trông
3. ta thấy em về / trong cơn mê tỉnh
má môi tròn trĩnh / ứa nắng chiều quê
4. ta mơ thấy em / má môi mọng chín
đôi tay phong kín / như búp sen đêm
5. ta thấy em qua / bước chân kiêu dị
thiên kiều bá mị / hài ngọc rụng hoa (…)
47. ai đã ngẩn ngơ / sau giờ tan lớp
bướm ong cánh chớp / rải phấn đầy thơ
48. thuở đó qua cầu / lòng ta chia nhịp
cho tình vừa kịp / chín tới mùa ngâu
49. tình mỏng đẻ non / nghĩa dày thiếu tháng
em về cầu ván / rẽ lối rêu mòn
50. từng bước chon von / mây chiều nắng ráng
sương vờn bảng lảng / khói động đầu non”
Trong tác phẩm, ông chủ trì lục bát nhưng là một thể loại hình thức mới ở chỗ mang tính tự do, tự do ở kỹ thuật thụt chữ khi xuống hàng, con chữ rời rạc, nhiều cách quãng, tự do ở cả ý tình bất chợt, nhiều ngõ ngách, cánh cửa tâm hồn mở rồi đóng, không mong, không đợi chờ,… Ngôn từ thơ ở đây rõ giàu thi tính, sung mãn và ngầm chứa bất ngờ.
Lê Giang Trần (Vương Kim Vân, 1952, Bạc Liêu – ), sau Sàigòn Ở Phố Lưu Vong (Tân Thư, 1990) có Trái Bom Tình Yêu (2017) tuyển thơ tình:
“Tòa lâu đài khởi sinh
từ viên gạch đầu tiên
tượng trưng cho công trình xây cất
Khuôn sườn vươn cao như sức sống
từng bộ phận tháp vào như mầm sống nẩy thêm
thiết trí như kinh nghiệm
sơn phết như khôn ngoan
thời gian công trình kéo dài như đời sống
hoàn tất thành hình như chấm dứt mãn sanh
người ta cắt băng khánh thành
đánh dấu ngày lành
tòa lâu đài bắt đầu chết hôm nay
từ viên gạch đầu tiên
tượng trưng cho công trình xây cất
Khuôn sườn vươn cao như sức sống
từng bộ phận tháp vào như mầm sống nẩy thêm
thiết trí như kinh nghiệm
sơn phết như khôn ngoan
thời gian công trình kéo dài như đời sống
hoàn tất thành hình như chấm dứt mãn sanh
người ta cắt băng khánh thành
đánh dấu ngày lành
tòa lâu đài bắt đầu chết hôm nay
Con người khai sinh
bằng giao kèo khác nhiều điểm
con tinh trùng là viên đá đầu tiên
nhưng thời gian là tên thợ không nhận tiền
nên không hứa hẹn kiếp người dài ngắn
và cuộc đời là vật liệu bất toàn
không ký kết điều chi vững chắc
bằng giao kèo khác nhiều điểm
con tinh trùng là viên đá đầu tiên
nhưng thời gian là tên thợ không nhận tiền
nên không hứa hẹn kiếp người dài ngắn
và cuộc đời là vật liệu bất toàn
không ký kết điều chi vững chắc
Bất luận đời người xây được bao năm
không ai khánh thành
khi cuộc nhân sinh hoàn mãn” – 5-8-1992
không ai khánh thành
khi cuộc nhân sinh hoàn mãn” – 5-8-1992
(Không Khánh Thành Cuộc Nhân Sinh)
Huỳnh Liễu Ngạn (Huỳnh Văn Hiệp; 1956, Thừa Thiên – ), thơ ông xuất hiện trên nhiều báo chí hải ngoại và chưa có ấn phẩm. Huế đã là không gian thơ của ông; Huế nhập trong thi ảnh, trong tình của thời quá vãng và hôm nay. Xin trích Bến Sông Nào Rồi Cũng Đợi Thuyền Đi:
“chiều qua ngã phố rẽ vào hồ nước Tịnh tâm
ở trong Thành nội
những chiếc cầu ao run rẩy
chiều đứng đợi xe đò bỗng dưng cơn mưa xuống
những chiếc cột đèn đường chao động
ánh đèn vàng lẩy bẩy
những cơn gió lùa từ mặt hướng sông lên
mưa giọt xuống lề đường ngã tư anh đứng co ro bên hè
thưa thớt người qua
nhìn xuống dòng sông lăn tăn con nước
xuôi dưới chân cầu Gia hội
chiếc đò chở khách về làng chạy từ hồi xế chiều
anh đợi người thân từ quê lên
để nhớ lai những ngày còn trẻ thơ
chưa biết phố xá tỉnh thành
đợi một nồi cá kho xấp nước mẹ gởi lên cho con ăn học
đem về phòng trọ nấu nồi cơm gạo ruộng
nước mắt chực trào
buồn như Huế mưa phùn lâm thâm
bên giàn hoa giấy phòng trọ
rung như nỗi lòng mình chao nghiêng
bên bến đò mỗi sáng
bến sông nào rồi cũng đợi thuyền đi
ở trong Thành nội
những chiếc cầu ao run rẩy
chiều đứng đợi xe đò bỗng dưng cơn mưa xuống
những chiếc cột đèn đường chao động
ánh đèn vàng lẩy bẩy
những cơn gió lùa từ mặt hướng sông lên
mưa giọt xuống lề đường ngã tư anh đứng co ro bên hè
thưa thớt người qua
nhìn xuống dòng sông lăn tăn con nước
xuôi dưới chân cầu Gia hội
chiếc đò chở khách về làng chạy từ hồi xế chiều
anh đợi người thân từ quê lên
để nhớ lai những ngày còn trẻ thơ
chưa biết phố xá tỉnh thành
đợi một nồi cá kho xấp nước mẹ gởi lên cho con ăn học
đem về phòng trọ nấu nồi cơm gạo ruộng
nước mắt chực trào
buồn như Huế mưa phùn lâm thâm
bên giàn hoa giấy phòng trọ
rung như nỗi lòng mình chao nghiêng
bên bến đò mỗi sáng
bến sông nào rồi cũng đợi thuyền đi
vắng bóng mẹ già
đã hơn một thập niên đời xuôi ngược
bao nhiêu mùa nước lên
bao nhiêu mùa nước xuống
và bao nhiêu mưa nắng cuộc đời
làm lòng anh se lại
mỗi chiều ngồi đợi chút mưa xanh
rơi lác đác xuống mặt hồ xưa
bên con đò xưa
và tiền kiếp nào trỗi dậy
không phải là tôi
hay là em
mà là Huế của dĩ vãng trôi xa
thời của lãng du đẩy đưa mái chèo quẩy bọt
lên đến thượng nguồn sông Hương
hay về hạ nguồn Vỹ dạ
xuôi ra cửa Thuận
và làng nước và bãi cát trắng
và thuyền chài nhấp nhô ngoài phá
bến sông nào rồi cũng đợi thuyền đi
thôi em cứ để cho nỗi đời kia lắng xuống
cứ lắng xuống bến bờ xưa
hoài niệm xưa
để hoàng hôn xưa không còn là
nỗi nhớ thương cũ kỹ
thôi em đừng về lại làm chi
cho màu tóc bay không còn thơm tho
như màu bông sứ nở
về lại làm chi
vì ngày xưa không phải là hôm nay
và hôm nay đã khác với ngày xưa
đã khác rồi đừng để cho bến đò xưa
con sông xưa
không còn chỗ đợi
em cứ nghĩ như anh
phải
em cứ nghĩ như anh
bến sông nào rồi cũng đợi thuyền đi
còn buổi chiều nào qua ngã phố
rẽ vào hồ nước Tịnh tâm
ở trong Thành nội”
Và bài Huế Và Em Đuổi Trăng Trôi Chốn Nào:
“đời trôi qua mấy cửa thành
em và mưa xuống Hoàng thành buồn không
giêng hai có đợi vàng bông
bâng khuâng cả mấy mùa đông trên ngàn
em và mưa xuống Hoàng thành buồn không
giêng hai có đợi vàng bông
bâng khuâng cả mấy mùa đông trên ngàn
đời trôi qua mộng úa tàn
mà nghe hương sứ nở tràn dưới đêm
khuya về gót lạnh sầu thêm
bóng em hoang tái khắp miền Huế đô
chừ nghe hồn vỡ trăng lơ
qua canh đọng tiếng chuông mờ đâu đây
tôi nghe thương nhớ vơi đầy
em như cổ tích đã gầy mái hiên
thoáng đời trôi rụng nghiêng nghiêng
tóc em thoảng dại binh yên hôm nào
em và thiên cổ hư hao
cùng mây xứ Huế trôi vào điêu linh
khuya rằm đò có lênh đênh
xuôi lên xuống nẻo hư tình Huế ơi
đời chôn hết cả xuân rồi
Huế và em đuổi trăng trôi chốn nào”
Vương Ngọc Minh tên thật Vương Minh (24-8-1954, Hà Tiên – ) còn ký Lưu Hy Lạc-tác giả Yên Đi 1999, có 26 Bài Thơ Tân Hình thức (Giọt Sương Hoa, 2002, tập thơ THT đầu ở hải ngoại); Song Thất Lục Bát; Mở Chữ (Tân Hình Thức Publ., 2016); Kẻ Đào Tẩu Nói Mớ Trong Tình Trường (Sống, 2022), Cầu Cơ Trên Cánh Đồng Chữ 2023; Không Như Quỷ Thần Tôi Sống Lúc Nào Cũng Lộ Diện; Tuồng Chữ Động Kinh (TGXB, 2023),…
Trích Không Như Quỷ Thần Tôi Sống Lúc Nào Cũng Lộ Diện:
“đây câu chuyện đậm tính huyền ảo
ai trên đời thơm thảo dị kì
đều ngậm một miệng sử kí
kể ra rất nhiều điều bí bách ý..
ai trên đời thơm thảo dị kì
đều ngậm một miệng sử kí
kể ra rất nhiều điều bí bách ý..
đời có gì không? mà phi lí
phút trước phút sau thí cô hồn
do các cái giống hổ lốn
tư thế lồm cồm tôi ngốn tư tưởng (!)
tợ con sơn dương bật kính ngưỡng
tôi kêu “.. giời hỡi dưỡng dục nào
khiến gai ốc trên bát cháo
lú-và xôi thịt bát nháo dữ tợn!”
trong lúc liền lặn-thường bặm trợn
.. bầu trời mới lợn cợn/bắt đầu
rạng đông (nên nhớ chỉ dấu
hôn ám-tôi nhấn mạnh-thấu thể tánh
hiện trạng sống-đời của vai chánh
i dưới âm ti!) gánh qua cầu
nại hà/những vong trùng ấu
nằm im đợi trở lại bấu căn kiếp..
ngó cuộc lữ-oải/vẫn đi tiếp
dẫu bao cơn đồng thiếp bứt gân
còn thôi thúc tôi còn cấn
tiếng nơi ngữ cảnh hưng phấn giục giã
không trào lộng tới phải giả lả
thốt ra ngữ buông thả thập thành
tầm nã đờm dãi thần thánh
môi miệng cứ phả tuyền ánh dục vọng
và giềng mối sự sống/chết-đọng
bóng ma dưới vòm họng kêu-đòi
vẫn không vì thế tôi nói
hãy gióng trống khua chiêng hối làng nước
vùng dậy-mặc câu chuyện hài hước
ở đây/cứ châm chước mở ra
dẫu cho dưới huyệt mộ cá
nhào (lộn!) dòng dọc bung phá bất kể
vâng (hệt rắn) quấn thân tôi-hễ
muốn ngồi đào chữ-dễ/tức thì
hồn vía tản mác chạy dí
mỗi người hiểu thơ-mỗi hí [mỗi khác!]
Trích Cầu Cơ Trên Cánh Đồng Chữ:
“từ sườn của một bài thơ tự do.
tôi ngủ hai tiếng trời đã sáng
tối rồi sáng-rồi máng tấm thân..
quả không sai/trật-điểm nhấn
là hễ ngồi dậy mồm khấn liên tục
thân chòng chành khiến cứ lo gục
luôn vói nắm cái bục bệ thờ
đứng-nhắm một cách cắc cớ
hỏi “giả-nằm xuống có mớ không vậy?”
như vừa được trục từ bãi sậy
tôi cành lá lay-cậy gió trời
kìa-vọng từ cửa sổ tới
tiếng nghe như thể quỉ “ới” ma mị..
(cực lạnh lòng!) giống có thể bị
đâm thủng bụng-quả dị cực kì
lại thoáng nghe lời bắt bí
vì tử chiến (cứ ngửa hí chịu chém
bưng đầu-bứt cổ ra!) dợm ném
thì thấy thực chả ém được gì
điều không tưởng cứ khách khí
suốt ngày (lẫn đêm) tôi thí bao chốt
xem đi xem lại câu thề thốt
chả hiểu chi-tôi hốt hỏa mù (…)
chả hề láo toét-bài thơ biết
ngày sẽ sáng và tiết tháo còn
với tôi-điều vẫn chăm bón
có ngất ngây lẽ mới choáng ngợp nhá!”
tôi ngủ hai tiếng trời đã sáng
tối rồi sáng-rồi máng tấm thân..
quả không sai/trật-điểm nhấn
là hễ ngồi dậy mồm khấn liên tục
thân chòng chành khiến cứ lo gục
luôn vói nắm cái bục bệ thờ
đứng-nhắm một cách cắc cớ
hỏi “giả-nằm xuống có mớ không vậy?”
như vừa được trục từ bãi sậy
tôi cành lá lay-cậy gió trời
kìa-vọng từ cửa sổ tới
tiếng nghe như thể quỉ “ới” ma mị..
(cực lạnh lòng!) giống có thể bị
đâm thủng bụng-quả dị cực kì
lại thoáng nghe lời bắt bí
vì tử chiến (cứ ngửa hí chịu chém
bưng đầu-bứt cổ ra!) dợm ném
thì thấy thực chả ém được gì
điều không tưởng cứ khách khí
suốt ngày (lẫn đêm) tôi thí bao chốt
xem đi xem lại câu thề thốt
chả hiểu chi-tôi hốt hỏa mù (…)
chả hề láo toét-bài thơ biết
ngày sẽ sáng và tiết tháo còn
với tôi-điều vẫn chăm bón
có ngất ngây lẽ mới choáng ngợp nhá!”
Bốn Thôi, một trong những bài Tân Hình thức và ký Lưu Hy Lạc:
“Ngày nào giáp mặt nhau / tôi sẽ lên giọng thầy
chùa — này, em ơi! nhỏ / nhẹ giùm, đi đứng phải
biết dấu cái giọng thầy; / đời này ai cũng biết
dè sẻn đúng lúc, tay / bắt mặt mừng mừng — tủi
tủi cho cái giọng thầy / chùa; này tuổi, này tên
này! sao còn mở miệng / lên giọng thầy, đời này
ai cũng ăn miếng trả / miếng, lại cũng giọng thầy;
đời này còn khổ hơn / chó, tóm lại hơn thua
chả ăn thua gì, thì / ngày nào giáp mặt nhau
nhớ nhắc giùm — khi đứng / lên đi về cũng phải
biết đừng tưởng bở cái / giọng thầy chùa, mà ở
đâu làm ơn ở yên / đi”.
chùa — này, em ơi! nhỏ / nhẹ giùm, đi đứng phải
biết dấu cái giọng thầy; / đời này ai cũng biết
dè sẻn đúng lúc, tay / bắt mặt mừng mừng — tủi
tủi cho cái giọng thầy / chùa; này tuổi, này tên
này! sao còn mở miệng / lên giọng thầy, đời này
ai cũng ăn miếng trả / miếng, lại cũng giọng thầy;
đời này còn khổ hơn / chó, tóm lại hơn thua
chả ăn thua gì, thì / ngày nào giáp mặt nhau
nhớ nhắc giùm — khi đứng / lên đi về cũng phải
biết đừng tưởng bở cái / giọng thầy chùa, mà ở
đâu làm ơn ở yên / đi”.
(Trích Thơ Không Vần, 2009, tr. 280-281)
Chinh Nguyên (Nguyễn Trung Chính; 1945, Hà Đông -) chủ tịch Cơ sở Văn Thơ Lạc Việt, sau các tập truyện Bước Chân Hoang (1970), và Mẹ Tôi (2007), là các tuyển thơ Lời Tình Buồn (2006), Đôi Mắt Biển (Văn Thơ Lạc Việt, tb 2019), Nỗi Đau Dài (VTLV, 2007, tb 2019), Bơ Vơ, Khắc Khoải (2022),… Cùng Đông Anh, Chinh Nguyên đã xuất bản chung tập thơ Dòng Thơ Kỷ Niệm (Văn Thơ Lạc Việt, 2010).
Trần Quốc Bảo (1930, Ninh Bình – ) trước 1975 từng xuất bản Cuộc Di Cư Vĩ Đại Trong Lịch Sử Thế Giới Cận Kim (1956), Thơ Quốc Bảo (2 tập, 1967 – 1973), thời hải ngoại chủ biên tạp chí Cỏ Thơm và xuất bản tuyển thơ Đối Diện Niềm Vui (1998), Đường Thi Tuyển Dịch (2016) và Tuyển Tập Thơ Văn (Hoa Tiên, 2016). Trích bài ca tụng thi ca:
“Cõi mộng huyễn chỉ có Thơ là thực
Bởi vì Thơ ngự trị ở trong tim
Thuở hồng hoang như những vết chân chim
Đem vô lượng khắc sâu vào vĩnh cửu
Bởi vì Thơ ngự trị ở trong tim
Thuở hồng hoang như những vết chân chim
Đem vô lượng khắc sâu vào vĩnh cửu
Từ băng hoại Thơ hiện lên hằng hữu
Ngọn bút thần từng ghi chép Thánh Thi
Trụ muôn đời dòng sinh mệnh suy vi
Dâng bí tích Diễm Tình Thơ bát ngát
Ngọn bút thần từng ghi chép Thánh Thi
Trụ muôn đời dòng sinh mệnh suy vi
Dâng bí tích Diễm Tình Thơ bát ngát
Chốn vô minh, riêng tứ Thơ siêu thoát
Hồn Kinh Thi lồng lộng vút lên cao
Lời Mẹ ru con nồng ấm ca dao
Vần điệu thăng hoa phiêu bồng vạn pháp
Hồn Kinh Thi lồng lộng vút lên cao
Lời Mẹ ru con nồng ấm ca dao
Vần điệu thăng hoa phiêu bồng vạn pháp
Với uy lực đến tột cùng bão táp
Với dịu hiền như những giọt sương mai
Thơ biến trần gian thành chốn Thiên thai
Thơ kết lòng người sợi tình yêu mến
Với dịu hiền như những giọt sương mai
Thơ biến trần gian thành chốn Thiên thai
Thơ kết lòng người sợi tình yêu mến
Ôi, mầu nhiệm! / Chân như
Ôi, hồn Thơ miên viễn!
Dòng máu hồng lưu chuyển kiếp nhân sinh
Ngợp trời Thơ trong ánh sáng bình minh
Ôi, hồn Thơ miên viễn!
Dòng máu hồng lưu chuyển kiếp nhân sinh
Ngợp trời Thơ trong ánh sáng bình minh
Chân Thiện Mỹ nhập thể Thơ Thuần túy.
Xin hãy về đây những tâm hồn thi sĩ
Nối vòng tay một thế giới thân thương
Dâng tiến ngàn hoa thơ mộng sắc hương!”
Nối vòng tay một thế giới thân thương
Dâng tiến ngàn hoa thơ mộng sắc hương!”
(Tuyển Tập Thơ Văn, tr. 165-166)
Trái khổ qua trở nên thi tứ cho hồn thơ đã phải xa quê nhà:
“Bỏ quên vàng cúc thắm hồng
Em tôi chăm chút cho vồng khổ qua
Ấp yêu mầu xanh ngọc ngà
Với cay đắng, với xót xa trong lòng
Em tôi chăm chút cho vồng khổ qua
Ấp yêu mầu xanh ngọc ngà
Với cay đắng, với xót xa trong lòng
Để tìm một thoáng núi sông
Cây đa cằn cỗi, cánh đồng hoang liêu
Mái tranh xơ xác tiêu điều
Con đò ngang chở đã nhiều xót thương
Ngục tù giăng khắp bốn phương
Niềm đau nỗi nhớ quê hương muôn đời
Lang thang góc biển chân trời
Vẫn ôm lưu niệm một thời khổ qua
Đắng cay tràn ngập bên nhà
Em đem cay đắng trồng qua xứ này
Chiều chiều xách nước tưới cây
Nhớ về quê mẹ những ngày khổ qua”
(Khổ Qua, Tuyển Tập Thơ Văn, tr. 195)
Cao Nguyên (Lưu Trọng Cao Nguyên) sau Thơ Mưa (1991, tb 1992, 2016), năm 2023 góp thêm tuyển thi Ba Dòng Thơ (Nhân Ảnh). Ở đây, kỹ thuật và hình thức con chữ làm nên thi tính, đưa ý tình và tâm nguyện của tác giả đến với người thưởng thức thơ. Một trong những thử nghiệm thi ca. Mỗi bài gồm ba dòng và chữ đầu của tiếng đầu tiên trở thành tựa đề. Bài n 1 như sau:
“nhắm mắt tự vẽ mình
vẽ môi vẽ mắt vẽ đôi tai
vẽ mình đang mở mắt”
vẽ môi vẽ mắt vẽ đôi tai
vẽ mình đang mở mắt”
Ba chữ, kiệm lời đấy, mà gợi hình đa dạng trong một cảnh tượng chẳng hạn, âm dương có đủ:
“bệnh xá hành lang
ma cũ ngồi
ma mới lang thang” (b 2)
ma cũ ngồi
ma mới lang thang” (b 2)
Cuối cùng, phải chăng nơi đến:
“vượt biên giới đời
vượt biên giới đạo
vô biên: một mình” (v 1)
vượt biên giới đạo
vô biên: một mình” (v 1)
Nguyễn Duy Linh (1933 – ) có tuyển tập thơ Thơ Viết Cho Mình (TGXB, 2023) – cũng là viết cho người vợ, người thân và bạn hữu thời Sư phạm SG, ở xứ người và quê nhà:
“Ta về gặp lại bạn bè xưa
Gối mỏi, chân run, mắt đã mờ
Tóc đã pha sương, đầu lãng đãng
Chuyện trò, câu được với câu chăng!
Gối mỏi, chân run, mắt đã mờ
Tóc đã pha sương, đầu lãng đãng
Chuyện trò, câu được với câu chăng!
Biến động năm nào còn dư chấn
Nỗi niềm tâm sự vẫn miên man
Ưu tư khắc dấu hằn trên trán
Giấc mộng ngày xanh lắm bẽ bàng!
Hỏi thăm bè bạn, ai còn, mất
Tiếc những ngày vui đã lụi tàn
Thăm nhau – liệu được bao lần nữa
Cho thêm ấm áp nghĩa tình xưa?”
– 2019 (Ta Về, tr. 9)
“Quê hương là vạt nắng chiều
Quê hương là tiếng sáo diều bay cao
Quê hương, làn điệu ngọt ngào
Võng đưa kẽo kẹt thấm vào lời ru.
Quê hương là tiếng sáo diều bay cao
Quê hương, làn điệu ngọt ngào
Võng đưa kẽo kẹt thấm vào lời ru.
Quê hương là tiếng chim gù
Tiếng gà giục bác nông phu ra đồng
Quê hương là chuyến đò đông
Nhịp chèo khuấy nước trên sông rộn ràng.
Tiếng gà giục bác nông phu ra đồng
Quê hương là chuyến đò đông
Nhịp chèo khuấy nước trên sông rộn ràng.
Quê hương, nét đẹp dịu dàng
Nụ cười thôn nữ mơ màng dưới hoa
Tiếng chuông chùa cổ ngân nga
Lời kinh cứu khổ thiết tha nguyện cầu.
Nụ cười thôn nữ mơ màng dưới hoa
Tiếng chuông chùa cổ ngân nga
Lời kinh cứu khổ thiết tha nguyện cầu.
Nhạc khuya vọng khúc đàn bầu
Tiếng tiêu réo rắt nỗi sầu mênh mang
Quê hương từ độ điêu tàn
Mây trôi bèo dạt ngỡ ngàng về đâu.
Tiếng tiêu réo rắt nỗi sầu mênh mang
Quê hương từ độ điêu tàn
Mây trôi bèo dạt ngỡ ngàng về đâu.
Một đời, bao cuộc bể dâu
Lưa thưa mái tóc, đổi màu từ lâu
Giật mình thức giữa chiêm bao
Song thưa gió lọt, động vào hồn quê.
Lưa thưa mái tóc, đổi màu từ lâu
Giật mình thức giữa chiêm bao
Song thưa gió lọt, động vào hồn quê.
Đường về, sương phủ mây che
Khó khăn mùa dịch tứ bề bủa vây
Thèm nghe dế hát đêm chầy
Treo cao nỗi nhớ, trăng gầy xứ xa” – 4-2022
Khó khăn mùa dịch tứ bề bủa vây
Thèm nghe dế hát đêm chầy
Treo cao nỗi nhớ, trăng gầy xứ xa” – 4-2022
(Tiếng Vọng Quê Hương, tr. 53-54)
Phạm Doanh (Phạm Hữu Chương) có Tuyển Tập Thơ (T. Vấn, 2018) đặc biệt trong phần I-Một Lần Lạc Lối, Một Đời Băn Khoăn, thơ là “những lắng đọng trong tâm thiền an tịnh”. Bài Giấc Mơ Hoá Bướm:
“I. Ừ, biết trần gian đã bạc lòng
Ừ, ta về tắm ánh trăng cong
Thân hình trần tục / phà hơi khói
Chiếc bóng vô thường / động nước trong
Nhắm mắt chối xua / ngàn ảo giác
Trầm mình gột rửa / vạn tà dâm
Tỉnh lai giữa đám người di động
Hồ điệp cơn mơ chợt đứt dòng.
Ừ, ta về tắm ánh trăng cong
Thân hình trần tục / phà hơi khói
Chiếc bóng vô thường / động nước trong
Nhắm mắt chối xua / ngàn ảo giác
Trầm mình gột rửa / vạn tà dâm
Tỉnh lai giữa đám người di động
Hồ điệp cơn mơ chợt đứt dòng.
II. Chập chờn bay, bướm chập chờn bay
Ngất ngưởng say, người ngất ngưởng say
Hồ điệp phiêu du đời lãng tử
Triết nhân ngờ vực giấc mơ ngày
Bồn vang trầm vọng / ru hồn lạc
Đàn gẩy tình tang / vỗ dáng gầy
Quên cả lời kinh, quên tụng niệm
Sóng bồi cát lở, / mỏi bàn tay.
Ngất ngưởng say, người ngất ngưởng say
Hồ điệp phiêu du đời lãng tử
Triết nhân ngờ vực giấc mơ ngày
Bồn vang trầm vọng / ru hồn lạc
Đàn gẩy tình tang / vỗ dáng gầy
Quên cả lời kinh, quên tụng niệm
Sóng bồi cát lở, / mỏi bàn tay.
III. Ánh đèn thoi thóp cạn dầu, lay
Đom đóm vu vơ chấm phá thay
Trong cỗ quan tài / người trá tử
Trên bàn hương án / khói không bay
Người: nằm mộng ngỡ thành thân ấy
Bướm: lạc hồn nghi hoá phận này?
Ta: bỏ không màng công án nữa
Vang rền tiếng vỗ / một bàn tay” (Tr. 9-11)
Đom đóm vu vơ chấm phá thay
Trong cỗ quan tài / người trá tử
Trên bàn hương án / khói không bay
Người: nằm mộng ngỡ thành thân ấy
Bướm: lạc hồn nghi hoá phận này?
Ta: bỏ không màng công án nữa
Vang rền tiếng vỗ / một bàn tay” (Tr. 9-11)
Con Đường Là Đạo Tự Nhiên Bất Cầu, nhà thơ đã như thuần phục tư tưởng và hành tung Lão Đam xa xưa:
“Ngồi đây hát, / ngồi đây hát,
vỗ mạn thuyền / vỗ mạn thuyền
vỗ mạn thuyền / vỗ mạn thuyền
Bóng trăng hư ảo, một miền tiêu dao
Mái chèo khuấy động ánh sao
Vỡ tan, / vỡ tan rồi lại tụ vào lung linh
Sá gì một kiếp phù sinh
Đáng gì là những mối tình lãng du
Mái chèo khuấy động ánh sao
Vỡ tan, / vỡ tan rồi lại tụ vào lung linh
Sá gì một kiếp phù sinh
Đáng gì là những mối tình lãng du
Mặc thuyền trôi, / Mặc thuyền trôi,
hướng trung lưu / hướng trung lưu
hướng trung lưu / hướng trung lưu
Nào tâm bất định, nào ưu tư cùng
Lụy phiền một túi cho chung
Thả theo dòng nước đến vùng giác minh
Dù không câu kệ lời kinh
Huệ tâm cảm nhận thể hình vô biên
Lụy phiền một túi cho chung
Thả theo dòng nước đến vùng giác minh
Dù không câu kệ lời kinh
Huệ tâm cảm nhận thể hình vô biên
Thoát thân tục, / nhập chân thiền
Con đường là đạo tự nhiên bất cầu
Chẳng mong về đến nơi đâu …” (Sđd, tr. 40)
Con đường là đạo tự nhiên bất cầu
Chẳng mong về đến nơi đâu …” (Sđd, tr. 40)
Phạm Đức Nhì (1952, Hải Phòng – )cựu sĩ quan QL/VNCH, định cư Hoa Kỳ năm 1993, có tập thơ Như Thế Là Tội Ác (T. Vấn, 2016). Thơ ông mang tính cách người tù “cải tạo”, không tương nhượng với kẻ thù:
“Một bác sĩ khám tử thi
thấy rất lạ kỳ
có những xác người trái tim nát vụn
có những xác người trái tim chai cứng
và có cả những xác người / không có trái tim
Bác sĩ / trong phòng mổ
suốt mấy ngày đêm / nát óc
không có câu trả lời thỏa đáng
Một sớm mai trời trong / rực nắng
thẫn thờ / ông mở cửa bước ra sân
ngước lên cao / như muốn hỏi trời xanh
bỗng thấy nổi bật trên nền vải đó
phất phơ trong gió / một ngôi sao vàng”
thấy rất lạ kỳ
có những xác người trái tim nát vụn
có những xác người trái tim chai cứng
và có cả những xác người / không có trái tim
Bác sĩ / trong phòng mổ
suốt mấy ngày đêm / nát óc
không có câu trả lời thỏa đáng
Một sớm mai trời trong / rực nắng
thẫn thờ / ông mở cửa bước ra sân
ngước lên cao / như muốn hỏi trời xanh
bỗng thấy nổi bật trên nền vải đó
phất phơ trong gió / một ngôi sao vàng”
(Câu Trả Lời Chân Xác, tr. 6-7)
Trần Đức Phổ (Trần Văn Thư; 20-9-1963, Quảng Ngãi – ), định cư tại London, Canada. Ông bắt đầu làm thơ từ năm 2014 và đã xuất bản khá nhiều từ tập đầu Áo Lụa Tình Quê (2021) đến Tuyển Tập Thơ Trần Đức Phổ (2024). Tất cả – ngoại trừ Những Đóa Hoa Thơ (T. Vấn, 2022) đều là ebook phổ biến trên Internet, Flipping Books, do đó khó thể đánh giá về sự đón nhận của độc giả. Trích bài Em Và Mùa Thu:
“Mùa thu trở lại bên khung cửa
Với nét đan thanh áo lụa vàng
Bầy chim sáo sậu kêu làm tổ
Mây trời chừng mỏi mệt lang thang
Với nét đan thanh áo lụa vàng
Bầy chim sáo sậu kêu làm tổ
Mây trời chừng mỏi mệt lang thang
Ta chờ em ở nơi đầu ngõ
Chỗ tiễn em đi lúc hạ về
Mùi hương tóc vẫn còn trong gió
Mà người biền biệt nẻo sơn khê
Chỗ tiễn em đi lúc hạ về
Mùi hương tóc vẫn còn trong gió
Mà người biền biệt nẻo sơn khê
Sùi sụt mưa bay buồn phố cũ
Tả tơi hoa sữa mãn sương mù
Dư âm của một thời hạnh ngộ
Xen vào giá lạnh cả trời thu
Tả tơi hoa sữa mãn sương mù
Dư âm của một thời hạnh ngộ
Xen vào giá lạnh cả trời thu
Còn nhớ chăng em chiều hôm ấy
Trao nhau nồng thắm nụ hôn đầu
Sóng mắt băng trinh, mùi con gái
Khiến ta chao đảo đến đời sau
Trao nhau nồng thắm nụ hôn đầu
Sóng mắt băng trinh, mùi con gái
Khiến ta chao đảo đến đời sau
Mùa thu trở lại, em không lại
Chiếc lá khô vàng nhớ gót chân
Em ạ, tiếng thu buồn biết mấy
Khe khẽ gọi thầm đâu cố nhân?”
Chiếc lá khô vàng nhớ gót chân
Em ạ, tiếng thu buồn biết mấy
Khe khẽ gọi thầm đâu cố nhân?”
(Áo Lụa Tình Quê, tr. 257)
Trần Nghi Hoàng sau một thời gian vắng mặt sinh hoạt hải ngoại, đã tái xuất với tập Bóng Chim Bằng Trên Vách Thời Gian (Nhân Ảnh, 2024),trường ca Nhật Ký Thời Gian (2024), ghi là “được viết trong 15 năm” và là “một trường ca được viết bằng ngôn ngữ thâm viễn nhất về Con Người và tất cả những thế giới có thực và không có thực; một trường ca mà tác giả đã Sống với nó nhiều hơn là Viết”.
Trích bài Hai:
“những điều huân tập từ bao tiền tiền kiếp không khứng cùng nhau cuộc hẹn định kỳ một tỉ năm một lần giao hoan bất chợt
điều phiền muộn bỗng dưng nghiêng
trả lại lời linh thiêng mất tăm từ dạo con người biết nói dối
điều phiền muộn bỗng dưng nghiêng
trả lại lời linh thiêng mất tăm từ dạo con người biết nói dối
riêng mỗi ngón tay một cư hành bất nhất
người thầy vị lai buông riềm mắt (mỉm cười?)
điều này chưa chi không có thật
(con mouse chạy trốn những con chữ
và tư tưởng chạy trốn ra khỏi bộ não của những con người)
chui vào những máy computer hiển lộ
trên những vuông monitor thăm thẳm
tầng Nguyên Đán Washington DC
người thầy vị lai buông riềm mắt (mỉm cười?)
điều này chưa chi không có thật
(con mouse chạy trốn những con chữ
và tư tưởng chạy trốn ra khỏi bộ não của những con người)
chui vào những máy computer hiển lộ
trên những vuông monitor thăm thẳm
tầng Nguyên Đán Washington DC
cuộc chạy đua hút hơi từng cục không gian treo lơ lửng
giữa một thời gian đông đặc / biên niên”.
giữa một thời gian đông đặc / biên niên”.
Nhà thơ Francis Assisi Lê Đình Bảng năm 2024 có thi tập Và Em, Lễ Khấn Dòng… do Tuổi Hoa ở Garden Grove, CA xuất bản. 63 bài thơ tình mang tính Đạo. Người tình là người nữ, là Mẹ, là Vợ quá cố, là những hình ảnh Nữ tinh tuyền, đạo hạnh, lý tưởng. Nhà phê bình Bùi Vĩnh Phúc dẫn vào thi tập, cho rằng đây là “một tập thơ có một nét đẹp khó tìm thấy, trong dáng nét và thể loại riêng của nó. Cái đẹp lạ lùng của tập thơ là ở chỗ nó đi thong dong giữa hai bờ, hai cõi. Cõi trần, cõi bụi và cõi đạo, cõi bát ngát hương hoa. (…) Thơ Lê Đình Bảng … phản ánh cái “chập chờn” nửa đời, nửa đạo. Cái nửa bụi, nửa trong…” (tr. 5, 9).Trích thơ:
“… Lâu lắm, làng quê vui lễ hội
Tháng 3, vừa chớm vụ chiêm Xuân
Hoa xoan đã thấy nồng trong ngõ
Năm ngoái lễ xa, nay lễ gần (…)
Có phải, Em về từ cõi khác
Hiện hình Thánh nữ Tê rê sa
Làm mưa hoa hồng xuống, mưa đều khắp
Cả thế gian, vui hưởng thái hòa”
Tháng 3, vừa chớm vụ chiêm Xuân
Hoa xoan đã thấy nồng trong ngõ
Năm ngoái lễ xa, nay lễ gần (…)
Có phải, Em về từ cõi khác
Hiện hình Thánh nữ Tê rê sa
Làm mưa hoa hồng xuống, mưa đều khắp
Cả thế gian, vui hưởng thái hòa”
(Ngày Mai, Lễ Khấn Dòng, tr. 21, 22)
“Hôm qua, đi lễ khấn dòng
Nhìn Em đăm đăm tựa bông hoa quỳ
Ta về, đọc truyện Trương Chi
Thì ra, người ấy cũng y như mình (…)
Sông nào rẽ khúc, ngăn đôi
Em như thánh nữ, ta người trần gian…”
Nhìn Em đăm đăm tựa bông hoa quỳ
Ta về, đọc truyện Trương Chi
Thì ra, người ấy cũng y như mình (…)
Sông nào rẽ khúc, ngăn đôi
Em như thánh nữ, ta người trần gian…”
(Và Em. Lễ Khấn Dòng, tr. 36, 37)
“Bao giờ, Em ở bên tôi, nhỉ
Bên ấy, bên này, thôi cách xa
Mỗi sớm, ly cà phê, đợi nắng
Mỗi chiều, chung rượu, dưới dàn hoa
Trời ơi, hạnh phúc êm đềm quá
Giấu để riêng mình, không nói ra”
Bên ấy, bên này, thôi cách xa
Mỗi sớm, ly cà phê, đợi nắng
Mỗi chiều, chung rượu, dưới dàn hoa
Trời ơi, hạnh phúc êm đềm quá
Giấu để riêng mình, không nói ra”
(Bao Giờ và Chẳng Bao Giờ, tr. 58)
Song Hoa bút hiệu của Hoa Văn và Thảo Chi xuất bản chung các tập thơ Hoa Nở Đường Về (2022) và Đồi Lá (2023), với những bài sáng tác chung và riêng.
Riêng nhà thơ Hoa Văn gần như đời người là đời thơ, và đa phần là thơ tình, từ thập niên 1950 cho đến nay. Trong giai đoạn hải ngoại này, ông thêm các tuyển thơ Mấy Nốt Phù Hoa (2016), 3 tập do Cội Nguồn xuất bản: Dòng Thơ Cho Em (2017), Hương Tình Hoài Điệp (2018), Hương Hoa Tình Thơ (2019)với nguồn cảm xúc từ một bóng hồng, tiếp theo là Dòng Tình Yêu Em (2019) và Hương Thắm Tình Hoa (2022). Năm 2024, ông phát hành Bảy Mươi Năm Thi Ca tuyển 151 bài thơ trước sau năm 1975 cùng những “Lời cảm nhận của văn thi hữu” trước nay. Trích bài cuối:
“Bảy mươi năm đến với thơ
Bồng bềnh con chữ đong đưa ngậm ngùi
Đường qua mưa gió dập vùi
Áo thơ che đủ ấm đời phong sương
Bồng bềnh con chữ đong đưa ngậm ngùi
Đường qua mưa gió dập vùi
Áo thơ che đủ ấm đời phong sương
Cõi đi cõi ở vô thường
Bước trầm luân giữa phố phường ngựa xe
Cao sang áo vạt thơ đề
Tình yêu thi phú bộn bề mây bay
Bảy mươi năm nghĩa tình đầy
Áo cơm thân thế tháng ngày vô vi
Sáng trong tô đẹp đường đi
Tình Thơ trọn vẹn lối về trăm năm”.
Vinh Hồ thời này xuất bản Gánh Gạo Nuôi Chồng (NA, 2024) và Như Biển Hồ Lai Láng (2025). Luôn là những vần thơ chân thật thích hợp cho những trải lòng, tâm sự, như khi nhớ lại công ơn cha mẹ:
“Cha mẹ nuôi con như biển hồ lai láng”
Cha mẹ thương con bằng bể bằng trời
Ngậm đắng nuốt cay không than một lời
Suốt đời hy sinh không hề tính toán
Cha mẹ thương con bằng bể bằng trời
Ngậm đắng nuốt cay không than một lời
Suốt đời hy sinh không hề tính toán
Gió bấc lùa đong đưa nhịp võng
Lời mẹ ru vang vọng canh trường
Cha đi cày một nắng hai sương
Ngày đông giá mong con no ấm
Mẹ từng gánh con qua lửa đạn
Con là hy vọng của đời cha
Công đức cha vĩ đại bao la
Tình thương mẹ thiêng liêng cao cả
Ai còn mẹ hãy nói câu thương mẹ
Ai có cha nên nói tiếng thương cha
Mẹ cha là Phật sống trong nhà
Đạo làm con cho tròn chữ Hiếu” – 18-7-2024
(Như Biển Hồ Lai Láng, tr. 14)
Các nhà thơ nữ
Cao Mỵ Nhân thêm Nhịp Tim Thơ (thơ tình; Nhân Ảnh, 2016); Tình Muộn (NA, 201?); Thơ Xướng Hoạ CMN và Trịnh Cơ (NA, 2020),…
Bài Mùa Đông Viễn Xứ:
“Thăm thẳm đường xa gió gọi
Cánh chim bay lạc lối về
Dẫu rằng hoàng hôn chưa tới
Mây trời đã rối u mê
Cánh chim bay lạc lối về
Dẫu rằng hoàng hôn chưa tới
Mây trời đã rối u mê
Đôi bàn tay em giá lạnh
Đón mùa đông viễn xứ buồn
Nỗi sầu tha hương canh cánh
Trong đời thiếu một nụ hôn
Anh có khi nào thương nhớ
(Nhớ gì, đang ở cạnh em?)
Nhiều lần nghe em thổ lộ
Rằng em say đắm cuồng điên
Đường trường không còn xa nữa
Mặt trời rớt xuống chân mây
Cuộc tình chưa hề tan vỡ
Nhưng năm tháng cạn vơi ngày …” – 11-12-2024
Thục Uyên cộng tác với Quán Văn, Thư Quán Bản Thảo và Ngôn Ngữ và đã in Giọt Buồn Rơi (Nhân Ảnh, 2023) gồm 104 bài đủ thể loại thơ.
“Tôi về soi bóng cội nguồn
Mẹ bên hiên vắng, tay luồn chỉ khâu
Vá con tấm áo dãi dầu
Vá lưng áo bạc, vá màu quê hương..
Chiều buông một tiếng đìu hiu
Cha ngâm khe khẽ đoạn kiều dở dang
Buồn sao buồn quá hồng nhan
Gánh sao cho hết đa đoan phận người”.
Mẹ bên hiên vắng, tay luồn chỉ khâu
Vá con tấm áo dãi dầu
Vá lưng áo bạc, vá màu quê hương..
Chiều buông một tiếng đìu hiu
Cha ngâm khe khẽ đoạn kiều dở dang
Buồn sao buồn quá hồng nhan
Gánh sao cho hết đa đoan phận người”.
(Soi Bóng Cội Nguồn)
Lưu Diệu Vân (1979 – ) sau 7 Giờ 47 Phút (TpHCM: NXB Văn Nghệ, 2010), đã xuất bản tập thơ Anh ngữ M of December(Vagabond Press, 2106) và tập Thế Kỷ Của Những Vật Tế (Westminster CA: Văn Học Press, 2021) – được nhà thơ dẫn nhập: “Qua chữ và qua tranh, Thế Kỷ Của Những Vật Tế vẽ ra một thế giới đang sưng phồng từ những phân tranh và tan rã bởi những hoài nghi, nơi con người tìm mọi cách để trốn chạy sự nhìn nhận, để rồi lúc đứng bên bờ vực hệ lụy, khi lối thoát duy nhất là nắm lấy tay nhau, họ sẽ làm gì?
Cô gái và tình nhân bên bờ địa ngục đỏ, những người chị, các bà mẹ, những người nữ đang sập bẫy, trên ban công, trên ghế nhung, trong chuồng máu, xuyên mẩu bánh mì, xuyên chiếc áo sơ mi đẫm mùi nội tiết tố, xuyên mũi tên Trọng Thủy, họ sẽ làm gì? Ngôn ngữ nhị phân của con mắt trí huệ có dẫn họ về nơi tử tế?
Tất cả ẩn náu trong Thế Kỷ Của Những Vật Tế”.

Nguyễn Thị Khánh Minh tiếp nối với Tháng Năm Là Mộng Đang Đi (Văn Học Press, 2023), tập thứ 12, và các tập tản văn: Bóng Bay Gió Ơi (Sống & Chương Chương, 2015; Lotus tb, 2019, Lang Thang Nghìn Dặm (Sống, 2017).
duyên, nhà thơ năm 2025 xuất bản chung với Nguyễn Thị Khánh Minh và Lê Chiều Giang tuyển tập Thơ do nhà Văn Học Press xuất bản. Phần thơ duyên có bài sáng tác đã nhiều năm trước, có bài thơ tặng văn nhân, nghệ sĩ và chứng tỏ tâm hồn nhạy cảm. Ghi lại bài Rừng Xưa Đã Khép “gửi Ch. Ngày buồn không nắng! / mùa đông 2014” gợi nhớ phần nào thi-cảnh tình thơ của Nguyễn Tất Nhiên:
“Sáng nay dậy muộn / bên ngoài trời chưa tỏ
tin Ch lìa đời, chiều qua…
bên cửa sổ, một chiếc lá nhỏ, thật đỏ, đang rơi…
nhẹ nhàng đậu lại trên nên tuyết trắng
nhủ thầm, có phải Ch đó không
như chiếc lá đương độ mùa thu. đẹp. phải lìa cành…
vì mùa đông. đến / lạnh lùng…/ quên. xót thương.
tin Ch lìa đời, chiều qua…
bên cửa sổ, một chiếc lá nhỏ, thật đỏ, đang rơi…
nhẹ nhàng đậu lại trên nên tuyết trắng
nhủ thầm, có phải Ch đó không
như chiếc lá đương độ mùa thu. đẹp. phải lìa cành…
vì mùa đông. đến / lạnh lùng…/ quên. xót thương.
Lá mùa Thu. rơi rụng… giữa mùa Đông *
Bên cửa sổ / mặt trời vừa thắp sáng
những cành cây vẫn trơ mầu chì xám
gió thổi mạnh, cuốn theo vài xác lá…
nhủ thầm. ai đây?
những chiếc lá lìa cành / chia xa cõi tạm…
những cành cây vẫn trơ mầu chì xám
gió thổi mạnh, cuốn theo vài xác lá…
nhủ thầm. ai đây?
những chiếc lá lìa cành / chia xa cõi tạm…
Đời như một cuốn phim quay chậm
đầu niên học năm nào, hai đứa tuổi 15
con bé thông minh, có đôi mắt thật tròn
môi em cười. đôi mắt cũng cười theo…
xếp cùng lớp. bên nhau mình thành bạn
thật thân. Có lúc cũng giận hờn
… cho kỷ niệm đầy tay…**
Mới hôm nào mình thổi nến bên nhau
cùng bạn cũ, tuổi mười lăm. ca ngợi 60 năm cuộc đời
môi em cười. đôi mắt cũng cười theo…
thắp thêm ngọn nến cho tuổi mình. cùng bạn
hẹn nhau sẽ đi thăm nhiều nơi chốn cũ
vội vàng gì? / gió thổi tắt ngọn nến dễ thương kia
cùng bạn cũ, tuổi mười lăm. ca ngợi 60 năm cuộc đời
môi em cười. đôi mắt cũng cười theo…
thắp thêm ngọn nến cho tuổi mình. cùng bạn
hẹn nhau sẽ đi thăm nhiều nơi chốn cũ
vội vàng gì? / gió thổi tắt ngọn nến dễ thương kia
Đời người như chiếc lá
thay đổi theo mùa: xuân, hạ, thu, đông
thời tiết thuận hoà, lá xanh non mọc
nắng hạ đem sức sống về, cho lá xanh
mùa thu, lá thay mầu, thật đẹp
khi đông về, cuốn lá thu đi…
Đông năm nay lạnh lùng
đến vội vàng, không đợi tiễn thu đi
nên chiếc lá nhỏ, thật đỏ, như môi em đang cười…
đã… rơi trên nền tuyết trắng, sáng nay
Rừng đông cuốn gió / em đứng bơ vơ…*
(* Trịnh Công Sơn, Rừng Xưa Đã Khép
** Nguyễn Tất Nhiên, Nên Sầu Khổ Dịu Dàng)
(tr. 80-82)
Hồi ký, bút ký
Huỳnh Công Ánh xuất-bản hồi-ký Vượt Tù Vượt Biển (2017) in chung phần Anh-ngữ Escape To Freedom from Prison Break Perilous Sea (438 trang) cùng với tuyển tập thơ Cát Bụi Lăn Trầm. Vượt Tù Vượt Biển khởi đầu hồi ký với việc tan hàng cuối tháng 3-1975 từ cầu Bà Gi, Bình Định.
Đôi vợ chồng phóng viên Dương Phục và Vũ Thanh Thủy chung viết hồi ký Phóng Viên Chiến Trường Tình Yêu Ngục Tù Và Vượt Biển (Tủ Sách Tiếng Quê Hương, 2019).
Đào Văn Bình có Thiên Sử Thi Của Người Vượt Biển (TGXB, 2002).
Khương Hữu Điểu ở Canada có Đông gặp Tây, hồi ký Hành trình qua Chiến Tranh và Hoà Bình (2 tập; Nhân Ảnh, 2017; bản tiếng Anh: East meets West, 2017).
Vũ Thất (Võ Văn Bảy; 1940 – ), sĩ quan Hải quân, sau tù “cải tạo”, vượt biên qua Mã Lai. Ở hải ngoại, ông xuất bản Đời Thủy Thủ tập 2 (Nhân Ảnh, 2023; tập 1 xuất bản năm 1969), là tác-phẩm có nội dung đặc sắc đưa lịch sử vào văn chương và viết bằng hồi ức. Với ngôn ngữ, tiếng nói của một miền Nam đã mất, tác giả đã thành công vẽ lại đời sống của một thời và sinh hoạt của những thuỷ thủ, những người lính bảo vệ tổ quốc – qua chuyện của một nữ sinh viên phản chiến bị cộng sản lợi dụng sai lén đem bom xuống chiến hạm nhưng sau hơn hai ngày hải hành đã không thể không … hồi tâm – chuyến hải hành từ vịnh Quy Nhơn đến sông Lòng Tảo!
Trần Đức Hân Prudence (1942 -) định cư tại Đức rồi California HK, có “biên khảo ngay thẳng” tựa Chiến Tranh Việt Nam (Westminster CA: TGXB, 202?) sau hai tập Tiếng Việt Đáng Yêu (2003).
Lê Phi Ô in Tiếng Gọi Việt Nam, tuyển tập thơ truyện và hồi ký chiến trường (Westminster CA: TGXB, 2021).
Đào Như xuất bàn tuyển tập Tản Văn và Tùy Bút (Nhân Ảnh, 2022) sau truyện dài Sài Gòn, Ngày Trở Lại và tập truyện Cuốn Theo Chiến Tranh.
Ngy Thanh có Đại Lộ Kinh Hoàng (Nhân Ảnh, 2022. 381 tr.) tập hợp tiếng nói của nhiều nhân chứng khác nhau, bằng thơ, bằng văn, bài báo và phóng sự trên Sóng Thần, bằng nghiên cứu, bằng luận án, bằng hình ảnh và bằng hồi ký đồng tình hay cáo buộc, ngụy biện – về câu chuyện xảy ra vào ngày 1-5-1972 tại tỉnh Quảng Trị.
Đỗ Xuân Tê có Một Thời U Ám (Giao Chỉ, 2016), Mưa Sài Gòn, Nắng Cali, Hãy Cho Nhau Nụ Cười, Dấu Ngụy Đỏ (“tùy bút chính luận”; T. Vấn, 2017) và Chân Dung Một Người Mỹ Tôi Quen. Ở ông, là những hồi ức đẹp có, mà không thể quên cũng có, là những chiến hữu, bạn văn và những nhân vật lịch sử.
Cựu Thiếu Tá Bộ Binh Hồ Đắc Huân là một nhà biên soạn quân sử 2 bộ Hồn Trong Sách Cũ (2021) và Nha Trang Thành Phố Quân Trường (2020).
Song Vũ Ngô Văn Xuân (1940- ) có các tập truyện và bút ký Sau Cơn Binh Lửa (2014) Một Thời Chinh Chiến (2021) viết về “những kỷ niệm của tác giả trong cuộc chiến tranh. Những giao tiếp đồng đội của tác giả, những suy nghĩ về chuộc chiến và những mảnh đời nghiệt ngã riêng trong nghiệt ngã sau chiến tranh, nơi xứ người… Nhưng điều làm suy ngẫm là ý nghĩa về cuộc đời của chúng mình, thế hệ của chúng tôi, qua những việc đã làm, những đau thương đã trải… thực sự là gì? Hoặc chẳng là gì hết!?” (X. KBC số đặc biệt 4-2024 “Song Vũ Ngô Văn Xuân một thời cầm súng một thời cầm bút”).
Nguyễn Kỳ Dzương, nguyên sĩ quan Không quân, 5 năm tù “cải tạo”, trốn trại và vượt biên đến Thái Lan, định cư ở Hoa-Kỳ từ 1981,năm 2024 xuất bản tập hồi ký Lao Tù Cải Tạo & Những Phần Đời Của Định Mệnh “về những năm tháng trong lao tù của CSVN cùng những phần đời trong định mệnh của tôi: có lúc an bình, lúc tủi hận, lúc ngụp lặn trong bể khổ, trong đày đọa, trái với những lúc cuộc đời được thăng hoa, sống lạc quan và đem công sức ra phụng vụ xã hội” (Lời Nói Đầu, tr. IV).
Tô Văn Cấp (11-11-1941, Kiến An -) có tập Nửa Đường “chuyện nhà-chuyện lính-chuyện người” (2019, tb 2020) về chuyện chung và riêng đều gãy gánh giữa đường – qua hình ảnh “chiếc cầu gẫy”. Tiếp theo là tập truyện lính Huynh Đệ Chi Binh Thủy Quân Lục Chiến (2023) về đời lính, tình thân với đồng ngũ và những gương sống cho quê hương đất nước đáng trân quý.
Ca sĩ Thanh Lan (Phạm Thái Thanh Lan, 1948- ) có Bão Tố Cuộc Đời (2022) về “Cội Nguồn,” “Cuộc Biến Động” và “Người Viễn Xứ”; bản tiếng Anh tự dịch Tumultuous Life.
Phạm Ngọc Lân (1944 – ), một người Việt lai Pháp, dược sĩ và nhạc sĩ, đã viết hồi ký về “người cha vô danh” và công cuộc tìm kiếm danh tính thật và quê thật của người cha – cũng là đi tìm chính mình, ban đầu bằng tiếng Pháp De Père Inconnu (Paris: L’Harmattan, 2015) sau viết lại bằng tiếng Việt Cha Vô Danh (L’Harmattan, 2019). Tác giả cho biết trong Lời Nói Đầu: “Những câu chuyện kể ở đây chỉ là những gì xảy ra thường ngày cho một gia đình Việt Nam như hàng triệu gia đình Việt Nam khác sống trong thời loạn ly của hậu bán thế kỷ 20. Nhưng qua những biến đổi của thời cuộc từ đệ nhị thế chiến đến tuyên bố độc lập, từ cuộc kháng chiến chống Pháp dần dần biến chất thành cuộc chiến tranh ý thức hệ với sự can thiệp của ngoại bang, từ thống nhất đất nước tới những trại tù cải tạo và thảm trạng của bao người vượt biên, những chuyện “thường ngày” đó đã không còn là “bình thường” nữa. Cần phải ghi lại để các thế hệ mai sau có thêm hiểu biết về đời sống của cha ông mình, về lịch sử cận đại của đất nước mình.
Thật vậy, tôi không chỉ đơn thuần kể chuyện về cuộc sống của một nhân vật trung tâm, mà luôn tìm cách lồng những chuyện ấy vào bối cảnh lịch sử của đất nước thời bấy giờ. Những dữ kiện lịch sử được lấy từ các nguồn “chính gốc”, tức là các kho lưu trữ những tài liệu trao đổi giữa các chính phủ Pháp, Mỹ với các đại sứ, lãnh sự, cơ quan tình báo của họ ở Việt Nam. Đây là những tài liệu thường là “mật”, sau mấy chục năm đã được “giải mật” để các nhà nghiên cứu có được cái nhìn chính xác hơn về những gì đã thật sự xảy ra. Đã có thời kỳ tôi chuẩn bị một luận án về sử ở Đại học Paris nên đã bỏ nhiều công sức tìm kiếm tài liệu liên quan đến miền Nam trong thời kỳ đất nước chia đôi. Cuối cuốn sách có một phần quan trọng ghi chú về lịch sử, dành cho những độc giả đặc biệt quan tâm …”.
Hồ Thị Quang Vinh có Nước Mắt Đổi Đời, “hồi ký của một người vợ cựu tù ‘cải tạo’” (2022)
Trần Nguyên Đán (Lữ Thành Kiến) có Về Mái Nhà Xưa (“truyện ký”; Nguồn Sáng, 2024).
Bút ký chiến trường giai đoạn này có Góc Trời Nhìn Lại (2024) của Trần Thức.
Trương Văn Út hiệu Út Bạch Lan có bút ký Quanh Quẩn Gần Xa, truyện ký Không Thể Nào Quên (2020), và bút ký Đời Lính Chiến Trường Đời Thường Biệt Xứ (Houston TX: Hoa Tự Do, 2022).
Nguyễn Xuân Thọ từ Đức quốc có “hồi ức” Hai Quê Hương (2020).
Nguyễn Văn Sinh xuất bản hồi ký Để Lại (Người Việt, 2016) về thời trẻ ở miền Bắc, di cư vào Nam theo trường Trung Học Chu Văn An, nhập ngũ và bị “học tập, cải tạo”.
Hoài Nam (Nguyễn Hữu Thiện), cựu sĩ quan Chiến tranh Chính trị, có hồi ký Cải Tạo Nửa Mùa-Vượt Biên Tài Tử (T. Vấn, 2024). Lời Nói Đầu cho biết: “Với không ít cựu sĩ quan QLVNCH ở lại, hoặc bị kẹt lại sau ngày mất nước trong số đó có tôi, nhắc tới ngày 30 tháng Tư 1975 là khơi lại tủi nhục đắng cay, nhắc tới hai chữ “cải tạo” là nhớ lại dĩ vãng kinh hoàng, nhắc tới chuyến vượt biển năm xưa là rùng mình ớn lạnh.
Nhưng rồi càng thêm tuổi, tôi càng vơi bớt hận thù, như thể cho tâm hồn được thanh thản trước khi đáp “chuyến tàu hoàng hôn”. Viết một cách chính xác, tôi vẫn căm ghét chế độ CSVN, vẫn giữ lời thề không đặt chân trở lại một khi quê hương còn bóng cờ đỏ, nhưng với những con người đã đày đọa, hành hạ mình trước kia, tôi cho rằng họ chỉ là những người sinh ra dưới một ngôi sao xấu – ngôi sao vàng trên nền cờ đỏ. Một khi thân xác tôi không bị nằm lại ở trại cải tạo, không bị chôn vùi dưới lòng đại dương, tôi vẫn cảm thấy mình may mắn hơn những con người ấy.
Bên cạnh đó, tôi không bị đưa ra miền Bắc, không phải sống ở những trại cải tạo hắc ám nhất trong Nam (trừ 6 tháng ở Phú Quốc), không dám vượt ngục…, vì thế thiên hồi ký của tôi sẽ không phải một bản cáo trạng về tội ác của chế độ CSVN, không phải một thiên anh hùng ca về những tấm gương can trường, bất khuất, cũng sẽ không có những tình tiết ly kỳ, rùng rợn, mà chỉ là chuyện kể – chuyện buồn cũng như chuyện vui (thật vậy, trong tù cộng sản vẫn có thể có “chuyện vui”), chuyện vượt biển giỡn mặt tử thần – không ngoài mục đích chia xẻ với bằng hữu và độc giả một quãng đời đã qua, cách riêng những ơn lành Thượng Đế thương ban cho một “đứa con hoang đàng” sám hối vào giờ thứ 25”.
Thanh Đào có hồi ký Những Người Được Chọn (Nhân Ảnh, 2020) kể quãng đời tị nạn tại Hoa-Kỳ theo diện “đoàn tụ gia đình” từ năm 1982.
Từ Pháp, Phương Vũ Võ Tam Anh có truyện dài mang tính tự sự Gió Bắc Gió Nam. Một gia đình bị chiến tranh chia rẽ kẻ Bắc người Nam, 40 năm sau chiến tranh những cảnh tái ngộ, máu mủ nhìn nhận nhau.
Hoàng Vi Kha (Trần Chiêu Anh Tuấn, 1970, Saigon – ), vượt biên năm 1988, định cư Hoa Kỳ năm 1991, đã xuất bản tập truyện ngắn Khóe Nhìn (2006), Yêu (thơ, 006), Hành Trình Tìm Tự Do (hồi ký, 2008) và Một Thuở Học Trò (truyện ngắn, 2015).
Hồi ký Hành Trình Tìm Tự Do là tự truyện chứng nhân của thảm trạng thuyền nhân:“… đây là lần đầu tiên tôi viết về chuyến vượt biển của mình. So với những bất hạnh của hàng trăm ngàn người khác, chuyện của tôi quá nhỏ bé. Nhưng đối diện với lịch sử, tôi vẫn là một chứng nhân cho một giai đoạn đen tối và cho hai chữ “thuyền nhân” vốn đã làm kinh hãi nhân loại. Bên cạnh đó, 20 năm đã trôi qua và dòng thời gian lại sẽ tiếp tục nối dài phía trước. Ở nơi này, một thế hệ mới đang hình thành và phát triển, trong đó có con cháu của tôi. Bọn chúng sẽ hạnh phúc hơn nhưng theo tôi, chúng phải được biết nguồn gốc, biết căn do cho sự hiện diện của chúng tại xứ sở này. Vì vậy, quá khứ cần phải nhắc. Không phải để khơi lên hận thù mà đơn giản chỉ như một câu chuyện lồng trong đó là ý nghĩa giá trị của cuộc sống và tự do. Để cho chúng phần nào hiểu được những gì chúng đang thụ hưởng vốn dĩ đã đánh đổi từ biết bao tang thương, chia lìa…” (tr. 3).
*
Thời này có một số tác phẩm của vài tác giả viết về Sài Gòn như một nơi chốn mà họ đã trở lại: Nguyễn Minh Nữu với Thương Quá Sài Gòn Ngày Trở Lại (2017), Lê Thanh Hoàng Dân với Thành Phố Sài Gòn (2019),... Mỗi tác giả một hành trình, họ có điểm gì chung chăng?
40, 50 năm sau trong chúng ta có người đã trở về/trở lại Sài Gòn, thế thì với một tâm trạng như thế nào? Sài-Gòn đã là “thành quách cũ” trong lòng người lưu dân, thì nay khi trở lại, “thành quách” ấy có còn chăng? Nay đã thế nào và họ đã nhìn thấy gì, cảm tưởng ra sao? Dù gì thì cũng phải nhìn nhận rằng tình cảnh cũng như cảm nhận “lưu vong” đã thay đổi và biến hoá theo thời gian!
Với Nguyễn Minh Nữu – định cư tại Hoa Kỳ từ 1995, “Đi và Về” đã trở thành những ám ảnh đời thường nhưng mang mang tính văn chương cũng như tâm trạng hiện sinh. Qua bút ký, với tác giả, Sài Gòn đã thay tên và thay da đổi thịt, nhưng Sài Gòn vẫn mãi là Sài Gòn, ở những con người đã “đi và về”, đã từng ở đó, từng đến đó, đã sinh sống và xem Sài Gòn là da thịt, là tâm hồn, là sự sống hoặc lẽ sống,… của chính mình, của thế hệ đôi mươi ở thập niên 1970 cũng như của nhiều thế hệ khác. Một kiếm tìm thời-gian và không-gian qua kỹ thuật bút ký vừa kể vừa nhớ vừa tìm – đối với ông, tất cả đã là nổi ám ảnh khôn nguôi. Cảm hoài, tìm lại và tìm thấy, nhận ra, sẽ khiến nỗi day dứt vơi bớt khi người ra đi có thể trở về chốn cũ. Bước chân đi tìm về chốn cũ, đi qua nhiều con đường ngày cũ, háo hức tìm ra những nơi chốn thân thương, những ngôi nhà nơi đã ở, đã đến. Qua bút ký này, tác giả đã trở về chốn cũ và đã tìm thấy, đã sống lại và đã chứng kiến đôi “cái còn lại“, hữu hình và cả vô hình hay trong tiềm thức. Cuộc trở về luôn liên quan đến lúc rời bỏ, cho nên đây đó người đọc nhìn thấy một số hồi hộp và cả lo sợ!
Thương Quá Sài Gòn Ngày Trở Lại đã cho độc giả từng ở Sài Gòn sống lại một thời đã qua, và thăm viếng, gặp lại những nơi mình cũng từng sống, từng đi qua, có nơi từng ghi dấu đau khổ và hạnh phúc, những nơi gần như tới lui mỗi ngày, những khu phố, những con đường “từng có một thời”. Nguyễn Minh Nữu với vốn liếng “từng có một thời” khá phong phú, nay với những chuyến “Đi và Về” thường xuyên, sống thực hữu, thực tình, bằng cái hiện sinh bất chấp, bằng cái tiềm thức sống động,… đã cho người đọc những giây phút hạnh phúc chúng tôi nghĩ không có gì đánh đổi được.
Tác giả Lê Thanh Hoàng Dân thuộc thế hệ di dân thứ nhất, nói đến quê hương là nói đến quá khứ, và thường là quá khứ của riêng họ. Ông đã trở lại Sài Gòn, “lang thang phố xá Sài Gòn, tìm lại, sống lại những giây phút êm đềm thời tuổi trẻ, mới lớn, vừa biết yêu, yêu nhau say đắm. Thời đó đã qua. Nhưng già, chúng tôi muốn tìm lại hương vị xưa”, và“ôn lại những kỷ niệm xưa, nhớ mơ hồ về một quá khứ xa xôi thời tuổi trẻ, luyến tiếc những di tích xưa của Sài Gòn, nay không còn nữa” (tr. 1, 35). Thật vậy, kẻ cưỡng chiếm Sài Gòn đã phá đổ, bôi xóa những dấu vết của Sài Gòn cũ, dù nhân danh tiến bộ và cập nhật thời đại, kể cả làm trái thiên nhiên và khuyến cáo của chuyên viên “tránh phát triển đô thị phía Nam Sài Gòn, vì đây là vùng đất thấp hay ngập lụt, nước thành phố sẽ đổ về phía này… Họ (Cộng Sản) càng đắp khu Nam Sài Gòn cao, Sài Gòn càng giống lòng chảo, nếu mưa là ngập, ngập càng ngày càng nặng, không có giải pháp” (tr. 113).
Tác giả đã cất công đi tìm viếng thăm những tàn tích này, truy tìm gốc gác lịch sử, văn hoá, v.v. Buồn thay, ông đã phải “thường đi ngơ ngác trong một Sài Gòn xa lạ, không còn thấy được gì duyên dáng của thành phố năm xưa. Nhiều người nói cái hồn Sài Gòn xưa cũ nay không còn nữa” và ông còn chứng nhận: “Những chứng tích chống Tàu xâm lược của Sài Gòn từ từ biến mất rồi” (tr. 43).
Thành Phố Sài Gòn đưa người đọc đi khắp phố xá, di tích, đền đài, cơ sở,… Từ những tiệm ăn, khách sạn sang trọng đến những quán cóc, những con hẻm, góc đường,… Hương vị, hình ảnh Sài Gòn và những vùng phụ cận sống động tràn ngập tập du ký, cùng với nhiều nỗi u hoài, tiếc nuối và cả tâm tình bất lực.
Giáo sư Lê Thanh Hoàng Dân năm 2018 xuất bản tập 42 Năm Sống Ở Nước Mỹ: Được Gì, Mất Gì? – Hoa Kỳ, nơi ông sinh sống và làm lại cuộc đời sau biến cố 30-4-1975.
42 Năm Sống Ở Nước Mỹ: Được Gì, Mất Gì? theo thiển nghĩ, khác với các hồi ký và bút ký của các tác giả người Việt cùng thế hệ di dân như tác giả Lê Thanh Hoàng Dân. Định nghĩa thế nào là người Mỹ gốc Việt. Nói thì dễ. Làm rất khó.” (tr. 37). Ông tâm sự với độc giả, cách riêng với giới trẻ: “Suốt 42 năm nay, tôi hình như có hai con người, với hai bậc thang giá trị khác nhau, chưa hội nhập hoàn toàn vô xã hội Mỹ được” (tr. 53). Đây không phải chỉ riêng đối với tác giả mà còn là “định mệnh”, là “bản ngã nhị trùng” của nhiều người Việt tị nạn trong các thập niên qua. Trong phần cuối “Nhìn Về Tương Lai”, ông xác nhận: “mục đích tôi viết loạt bài này là để nhớ lại một vài chuyện đã xảy ra trong 42 năm sống ở Mỹ. Nếu lần này tôi không nhớ được, quá khứ và cuộc đời của tôi ở đây sẽ bị chìm trong lãng quên. Những khó khăn hội nhập của tôi. Thảm kịch gia đình tôi, hậu quả của cuộc chiến, sẽ biến mất như mây khói. Bài học và những trải nghiệm của tôi sẽ coi như vô nghĩa, không giúp ích cho ai cả” (tr. 94).
Cộng đồng người Việt hải ngoại xuất phát từ biến cố lịch sử đau thương của dân tộc Việt Nam, đã lớn mạnh và đồng thời đóng góp tích cực cho xã hội bản xứ về nhiều lãnh vực và qua nhiều thế hệ tiếp nối. Lịch sử cộng đồng hải ngoại cần được ghi chép và bởi nhiều người từ nhiều quốc gia, bộ sách của giáo sư Lê Thanh Hoàng Dân cùng của các vị khác sẽ là những đóng góp quý báu cho công trình tập thể này!
Du ký
GS Lê Thanh Hoàng Dân viết tiếp hai bộ Nước Mỹ Nơi Tôi Đang Sống và Về Thăm Lại Quê Hương gồm các bút ký du lịch cùng tâm tình, nhận xét của tác giả quê nhà Việt Nam, và về đất nước Hoa Kỳ cùng một số nước trên thế giới. Trong số, cuốn Thành Phố Sài Gòn đưa người đọc đi khắp phố xá, di tích, đền đài, cơ sở,… Từ những tiệm ăn, khách sạn sang trọng đến những quán cóc, những con hẻm, góc đường,… Hương vị, hình ảnh Sài Gòn và những vùng phụ cận sống động tràn ngập tập du ký, cùng với nhiều nỗi u hoài, tiếc nuối và cả tâm tình bất lực. 44 năm trước, tác giả đã cố gắng hội nhập hướng đến tương lai, nay, khi trọng tuổi, ông đã trở lại quê quán, quay về quá khứ, sống trong hoài niệm. Với ông, cũng chỉ là “đi” và “về” vì không thể hoàn toàn “trở lại”!” .
BS Nguyễn Dương có Vòng Quanh Thế Giới Trong 19 Ngày… (2015) viết về chuyện “đi và sống” và quan sát con người, phong tục tập quán của một số quốc gia.
Lâm Hoàng Mạnh có du ký Còi Không Hụ (Nhân Ảnh, 2018) chuyện du lịch Việt Nam và Trung quốc, tiếp theo tập hồi ký Buồn Vui Đời Thuyền Nhân (Tiếng Quê Hương, 2011) chuyện vượt biên của những người Việt gốc Hoa sau 1975.
Nguyễn Vy Khanh
……………………
Chú thích
16- Trong nước, các trang mạng gọi là “văn nghệ” đến sau và ít thuần túy văn học nghệ thuật.
17- “Đầu năm Cọp nói chuyện sách báo”, Việt Tribune 2011.
18- Trích từ Văn Hữu, số 44, Xuân 2019, tr. 168, 174, 176.
19- Trích từ https://www.art2all.net/tho/tho_vtv
[Văn Học Việt Nam 50 Năm Hải Ngoại. Quyển Thượng Tổng quan (Toronto: Nguyễn, 2025; lulu.com phát hành), trang 209-270]
