
I. Tác Giả Và Tác Phẩm
Du Tử Lê là một nhà thơ cô đơn.
Đọc đến đây, chắc hẳn, các bạn sẽ cả cười mà rằng, bà Hiền Mây viết cái chi mà thiệt là trớt quớt. Là thi sĩ, ai chẳng cô đơn?
Đúng vậy, bạn đọc chê trách tôi như vậy, thiệt là rất phải. Nên tôi sẽ sửa lại câu nhận định ấy như thế này, Du Tử Lê - nhà thơ của nỗi cô đơn.
Du Tử Lê đứng một mình giữa ngã ba của thời gian, ngoái lại phía sau, ngó tới phía trước, rồi cất tiếng gọi vào khoảng không, không chắc có ai nghe, nhưng vẫn cứ gọi.
Trong suốt hành trình thơ của mình, Du Tử Lê trở đi trở lại với những chủ đề quen thuộc: tình yêu, chia lìa, cô đơn, thời gian, sự chết, ký ức, và thân phận mong manh của một kiếp người.
Ở ông, tình yêu hiếm khi chỉ là chuyện của hai người xa nhau hay gần nhau. Tình yêu, trong thơ Du Tử Lê, thường được đẩy tới một chỗ đứng khác. Đó là chỗ để con người đối diện với những buồn vui không ngừng của đời sống, với những được mất không thể nào tránh khỏi, với những mong manh và giới hạn của mình.
Giọng thơ của Du Tử Lê buồn (đương nhiên), dịu dàng và nhỏ nhẹ, như bản chất con người ông vậy. Giọng thơ của Du Tử Lê, còn là giọng thơ của nỗi đau. Đó là nỗi đau của tuổi trẻ, của tình yêu, cứ mỗi ngày một tàn phai đi, mà không sao giữ lại được, dẫu cho ta có khao khát đến đâu.
Khúc Tháng Chín là bài thơ mang giọng thơ như thế. Bài thơ như lời độc thoại gửi đến em. Em đây, có thể là người tình cũ. Em đây, có thể là ký ức. Em đây, cũng có khi chỉ là cái cớ để nhà thơ được nói chuyện với chính mình.
Tháng Chín, thì được biến hình liên tục qua từng khổ thơ. Nào là "mùa thu về rất sẽ", rồi "mùa thu về như thể", rồi "mùa thu hồng, lối biếc", rồi "mùa thu về rất mới", và cuối cùng, "này tháng chín". Tháng Chín, cũng trở thành một đối tượng để nhà thơ trò chuyện, như thể Tháng Chín có tai để mà nghe, có trái tim để mà hiểu.
Khúc Tháng Chín là một câu chuyện. Nói cho đúng hơn, câu chuyện chưa được kể ra cho trọn vẹn: một người đứng bên đường, một người đã đi qua đời sống này, một tình yêu đã lùi vào quá khứ, và một cuộc chia lìa mà nhà thơ không gọi thẳng tên.
Khúc Tháng Chín là độc thoại của một người đứng trước thời gian, nhìn tình yêu từ phía của mất mát, và cố sức giữ lại chút gì đó đang rời khỏi đời mình, dẫu biết rõ ràng là sẽ không bao giờ giữ được.
******
II. Bài Thơ Khúc Tháng Chín
Khúc Tháng Chín
này tháng Chín, mùa thu về rất sẽ
em biết không? tôi kẻ đứng bên đường
hồn tháng Chạp, cuối đời khua tiếng gậy
em từ tâm có đủ lượng bao dung?
này tháng Chín, mùa thu về như thể
giữa đêm qua, có kẻ lén vào
vườn hạnh phúc một người đang tập nói
chàng phục sinh như một giấc mơ
này tháng Chín, mùa thu hồng, lối biếc
mưa ở đâu? ướt trí nhớ ai?
chàng đứng lại bên kia bờ nước cuốn
em bên này có lạnh đôi bàn tay?
này tháng Chín, mùa thu về rất mới
bởi hôm qua có kẻ đã qua đời
hồn thánh thiện lối vào thơm cỏ cũ
em xạ hương từ quá khứ tôi
này tháng Chín, này em, này tháng Chín
em biết không, tôi, kẻ đứng bên đường
hồn hải điểu có bao giờ quy thuận
bỗng bình minh như một cửa gương
này tháng Chín, lược đời tôi, hãy chải
và cho tôi sợi tóc cuối chân ngày
đêm tháng Chạp tôi sẽ ngồi nối lại
những con đường (những sợi tóc rơi)
những con đường mãi mãi chả ai thôi
quên nhắc đến bởi chính hồn em đó
này tháng Chín, nghe không lời nói nhỏ:
“hoàng hôn em, tôi gửi một que... diêm.” (09.1983)
******
II.1. Em Từ Tâm Có Đủ Lượng Bao Dung?
này tháng Chín, mùa thu về rất sẽ
em biết không? tôi kẻ đứng bên đường
hồn tháng Chạp, cuối đời khua tiếng gậy
em từ tâm có đủ lượng bao dung?
Bài thơ bắt đầu bằng tiếng gọi - này tháng Chín. Cách gọi ấy khiến tháng Chín không còn là một mốc thời gian vô tri vô giác, cách gọi ấy, khiến bạn đọc tưởng tháng Chín là con người, có thể lắng nghe, có thể đáp lời. Tháng Chín vì thế, bỗng trở thành cánh cửa mở vào trong ký ức.
Mùa thu về rất sẽ” - “sẽ” ở đây mang nghĩa nhẹ, khẽ, êm ái, gần với những cách dùng như “se sẽ”, “sẽ sàng”; như trong câu thơ “Tiếng sen sẽ động giấc hòe” của Nguyễn Du.
Mùa thu không ào tới như một cơn gió lớn, mà đến khẽ khàng, gần như không gây một tiếng động nào. Cái cách mùa thu đến ấy, hoá ra, cũng là cách mà tác giả đưa nỗi buồn đến trong suốt bài thơ: nhẹ, nhưng thấm rất sâu, rất lâu. Thơ không cần phải gào thét, phải kêu la thảm thiết, thì mới biết mình đau.
Câu thơ tiếp theo đưa ra một hình ảnh - tôi, kẻ đứng bên đường. Đứng bên đường mang nghĩa là, không còn ở giữa cuộc hành trình nhưng cũng chưa hẳn đã dừng hẳn lại. Đó là con người đứng ngoài rìa của chính đời sống mình, ngoài rìa của một cuộc tình đã cũ, ngoài rìa của tuổi trẻ đã qua, ngoài rìa của dòng thời gian cứ mải miết chảy, chẳng đợi ai.
Hồn tháng Chạp, cuối đời khua tiếng gậy - là câu thơ đối lập rất khéo với tháng Chín ở câu đầu. Nếu tháng Chín là mùa thu, là khoảng giao mùa còn ấm áp, thì tháng Chạp gợi cái rét cuối năm, cuối một chu kỳ, cuối một vòng đời sống.
Khua tiếng gậy - vẽ nên hình ảnh một linh hồn đã mỏi mệt, đã già nua, đang dò dẫm bước về phía tận cùng với cảm thức về giới hạn của một kiếp người.
Và câu cuối của khổ thơ - em từ tâm có đủ lượng bao dung? Từ tâm, bao dung, bằng hai từ này, tác giả đã mở rộng câu chuyện ra khỏi phạm vi một mối tình đôi lứa. Đó là câu chuyện của một con người, với những lỗi lầm, tổn thương trong quá khứ, của chính mình lẫn của người kia, đang có nhu cầu mong được tha thứ.
******
II.2. Chàng Phục Sinh Như Một Giấc Mơ
này tháng Chín, mùa thu về như thể
giữa đêm qua, có kẻ lén vào
vườn hạnh phúc một người đang tập nói
chàng phục sinh như một giấc mơ
Như thể được đặt ở đầu khổ thơ thứ hai, tạo một cảm giác lấp lửng, nơi hiện thực và mộng tưởng trộn lẫn vào nhau, không còn phân biệt được đâu là thật, đâu là ảo.
Và - kẻ lén vào - xuất hiện, mang đến tình yêu. Tình yêu không đến bằng tiếng gọi rộn ràng, mà đến âm thầm, gần như kẻ ăn trộm, tự tiện xâm nhập vào một đời sống trong lặng lẽ đã từ rất lâu.
Đang tập nói - đã vẽ nên hình ảnh của một người, tựa như một đứa trẻ non nớt trước hạnh phúc, như đang học lại từ đầu cách yêu, cách tin và cả cách mở lòng ra sau một thời gian dài đã đóng lại.
“Phục sinh” trong - chàng phục sinh như một giấc mơ- đã mở ra một tầng nghĩa mang tính tôn giáo. Một người với tâm hồn tưởng đã chết, nay lại trở về với tình yêu, với sự sống. Nhưng, lập tức ngay sau đó, câu thơ đã tự hạ bớt cái chắc chắn của mình bằng cụm từ - như một giấc mơ.
Như một giấc mơ - đẹp, nhưng mong manh, đẹp, nhưng khó tin là có thật. Chính chữ "giấc mơ" ấy làm cho hạnh phúc, ngay khi vừa xuất hiện, đã mang sẵn trong mình, bóng của sự mất mát sắp tới.
Tình yêu, có thể làm cho một tâm hồn tưởng đã cũ kỹ bỗng sống dậy, dẫu chỉ trong một chớp mắt.
******
II.3. Em Bên Này Có Lạnh Đôi Bàn Tay?
này tháng Chín, mùa thu hồng, lối biếc
mưa ở đâu? ướt trí nhớ ai?
chàng đứng lại bên kia bờ nước cuốn
em bên này có lạnh đôi bàn tay?
Mùa thu trong khổ thơ thứ ba, hiện ra với sắc "hồng", sắc "biếc", tươi tắn, khoe thắm, như hình ảnh mà ta thường thấy trong những truyện cổ tích.
Nhưng ngay sau vẻ đẹp rực rỡ ấy, câu thơ liền nhanh chóng chuyển hướng - mưa ở đâu? ướt trí nhớ ai? Cảnh vật từ ngoại giới bỗng tràn vào nội tâm. Mưa không chỉ làm ướt áo, ướt tóc, ướt con đường, mà mưa còn làm ướt cả trí nhớ. Đây là một trong những kiểu chuyển đổi cảm giác của thơ, bên ngoài thấm sâu vào bên trong và xóa nhòa ranh giới.
“Nước cuốn” trong - chàng đứng lại bên kia bờ nước cuốn - là một hình ảnh vừa cụ thể vừa biểu tượng, gợi lên thời gian, gợi lên số phận, gợi cả những biến động trong cuộc đời.
"Đứng lại" đối lập gay gắt với "nước cuốn", con người muốn dừng chân, nhưng đời sống thì cứ trôi, chẳng chịu mà cũng chẳng thích, chẳng muốn chờ đợi ai bao giờ.
Cuối khổ thơ là một câu hỏi khẽ - em bên này có lạnh đôi bàn tay? Tình yêu, với Du Tử Lê, không mang nghĩa chiếm hữu, lại càng không có nghĩa là đòi hỏi. Tình yêu, với Du Tử Lê, không là những lời yêu đương hoa mỹ, mà là sự lặng lẽ quan tâm, những quan tâm rất cụ thể, rất gần gũi - đôi bàn tay.
Tình yêu giờ đây đã bước vào trạng thái cách biệt. Hai người đứng ở hai bờ, và giữa họ là dòng nước cuồn cuộn của thời gian, của số phận.
******
II.4. Này Tháng Chín, Mùa Thu Về Rất Mới
này tháng Chín, mùa thu về rất mới
bởi hôm qua có kẻ đã qua đời
hồn thánh thiện lối vào thơm cỏ cũ
em xạ hương từ quá khứ tôi
Thoạt vừa đọc qua câu thơ, người đọc khó tránh khỏi cảm thấy phi lý: này tháng Chín, mùa thu về rất mới / bởi hôm qua có kẻ đã qua đời. Nhưng ngẫm nghĩ lại, bạn sẽ chẳng thấy Du Tử Lê vô lý chút nào. Cái chết của một con người, có thể khiến cho người còn đương sống, thay đổi một cách nhìn, như thể cặp mắt của người đương sống vừa được lau sạch đi lớp bụi.
Hồn thánh thiện - là cách người đã khuất được nhìn lại qua lớp ký ức đã được gạn lọc. Khi một người đi xa, những giận hờn, những đau đớn, những va chạm thường ngày, tự dưng, sẽ được dời về phía sau. Điều còn ở lại, phần lớn, là những phần đẹp nhất của họ.
Lối vào thơm cỏ cũ - cỏ đã cũ, đã khô, nhưng vẫn còn tỏa hương. Quá khứ tưởng như đã chết hẳn, hoá ra, vẫn còn khả năng đánh thức cảm giác, chỉ cần một làn gió rất nhẹ đi qua.
“Em" trong - em xạ hương từ quá khứ tôi - không còn là một con người cụ thể đang hiện diện trước mắt nữa. Em đã hoá thành mùi hương của ký ức, không nhìn thấy được, không chạm vào được, nhưng vẫn cảm nhận rất rõ, mùi hương đương lan trong không khí mà không cần một hình hài nào đi kèm.
Tình yêu của tác giả, giờ đây, còn tồn tại được là nhờ ký ức.
******
II.5. Bỗng Bình Minh Như Một Cửa Gương
này tháng Chín, này em, này tháng Chín
em biết không, tôi, kẻ đứng bên đường
hồn hải điểu có bao giờ quy thuận
bỗng bình minh như một cửa gương
Này tháng Chín - ở khổ thơ này được lặp lại, nhưng lần này, vẻ như, dồn dập hơn hẳn.
Này tháng Chín, này em, này tháng Chín - tựa một người đang cố níu, cố giữ lấy điều gì đó, sắp vuột khỏi tay mình, và họ phải gọi tên điều ấy liên tục để nó đừng biến mất.
Và - hồn hải điểu - được xuất hiện, mang theo cả một không gian rộng lớn của biển, của gió, của những chuyến bay không điểm dừng.
Hồn hải điểu - có thể hiểu là phần tâm hồn không chịu bị trói buộc trong con người. Đem “hồn hải điểu” này nối với hình ảnh "kẻ đứng bên đường", ta sẽ thấy ra, đó là người luôn ở trạng thái giằng xé giữa đi và ở, giữa tự do và gắn bó.
“Quy thuận” trong - có bao giờ quy thuận? - như đặt con người trước một nghịch lý muôn thuở, vừa muốn được tự do nhưng cũng lại vừa muốn được thuộc về một ai đó. Và câu thơ không cố gắng giải quyết nghịch lý này. Câu thơ để những mong muốn nguyên đó, như một vết thương chưa lành mà cũng không cần lành.
Rồi bất chợt, câu cuối cùng của khổ thơ mở ra một khoảng sáng - bỗng bình minh như một cửa gương. “Cửa" là để mở ra. “Gương" là để phản chiếu. “Bình minh” là cánh cửa để con người soi lại chính mình.
******
II.6. Những Con Đường (Những Sợi Tóc Rơi)
này tháng Chín, lược đời tôi, hãy chải
và cho tôi sợi tóc cuối chân ngày
đêm tháng Chạp tôi sẽ ngồi nối lại
những con đường (những sợi tóc rơi)
Từ một vật dụng rất đời thường - lược đời tôi - chiếc lược bỗng được Du Tử Lê cho hóa thành hình ảnh tượng trưng của thời gian - hãy chải.
Đời người được tác giả hình dung như một mái tóc rối, và mỗi ngày trôi qua để lại thêm một chút rối ren, một chút thương tích, một chút ký ức chưa gỡ được.
Sợi tóc cuối chân ngày - đã nối "tóc" với "ngày" thành một, khiến thời gian như được vật chất hoá để có thể cầm, có thể nhìn thấy, sợi tóc và tháng ngày, đương rơi từng chút một. Một ngày, giống như một mái tóc, có thể mất đi từng sợi mà người ta không hề hay biết, cho đến khi nhìn lại mới thấy đã thưa đi nhiều.
Đêm tháng Chạp tôi sẽ ngồi nối lại - là một câu thơ mang trong nó cả một bi kịch nhỏ. Con người luôn muốn làm những điều mà mình chẳng thể, ví dụ như, nối lại những gì mà thời gian đã làm cho nó bị đứt lìa. Đây chính là nghịch cảnh muôn đời của ký ức, muốn trở lại nhưng không thể trở lại, nên chỉ còn một cách duy nhứt - nối lại chúng, nối lại những điều hằng khao khát ấy, bằng những lời văn và bằng những câu thơ.
Câu thơ mà tác giả đặt trong ngoặc đơn - những con đường (những sợi tóc rơi) - là một cách viết rất tinh tế của Du Tử Lê.
Hai hình ảnh được đặt cạnh nhau, tưởng chẳng liên quan, nhưng thiệt ra, cả hai đều gợi những thứ đã rời khỏi đời sống và không cách nào lấy lại nguyên vẹn. Những con đường người ta từng đi qua, hoá ra, cũng chính là những năm tháng đã rơi khỏi đời họ, lặng lẽ như tóc rụng mà chẳng ai kịp giữ.
Thơ giờ đây, bắt đầu làm công việc của ký ức, đó là, nhặt nhạnh những gì đã rơi rụng và cố nối chúng lại thành một đời sống để khi nhìn lại, còn thấy có ý nghĩa.
******
II.7. Này Tháng Chín, Nghe Không Lời Nói Nhỏ
những con đường mãi mãi chả ai thôi
quên nhắc đến bởi chính hồn em đó
này tháng Chín, nghe không lời nói nhỏ:
“hoàng hôn em, tôi gửi một que... diêm”.
Những con đường mãi mãi chả ai thôi / quên nhắc đến bởi chính hồn em đó - nghĩa là, những con đường của một đời người, có thể bị lãng quên bởi thế gian, nhưng thiệt ra, chúng vẫn luôn tồn tại. Chúng tồn tại là vì có "hồn em" làm nơi lưu giữ chúng.
Ký ức về một đời người, hoá ra, không nằm ở những gì còn sờ nắm được, mà nằm trong một tâm hồn khác vẫn còn nhớ. Người ta có thể mất đi, nhưng dấu vết của họ vẫn ở lại. Diễn đạt một cách khác đi, chỉ cần một người còn nhớ tới, thì đời người đã khuất ấy, vẫn còn được lưu giữ trong thực tại.
Và sau tất cả những tiếng gọi, những câu hỏi, những lời độc thoại dồn dập trong suốt sáu khổ thơ, bài thơ kết lại bằng một - lời nói nhỏ. Và đúng như một quy luật ngầm của thơ ca, âm lượng càng nhỏ đi, thì sức lan tỏa sẽ càng đi xa hơn và càng trở nên lớn rộng hơn.
Hoàng hôn em - gợi thời khắc cuối ngày, song hành cùng "tháng Chạp", "cuối đời", "qua đời", đặt rải rác khắp bài thơ. Nhưng hoàng hôn trong Khúc Tháng Chín, không hoàn toàn đồng nghĩa với cái chết. Hoàng hôn trong Khúc Tháng Chín, là vẻ đẹp cuối ngày trước khi bóng tối ập xuống.
Mới hay, ánh sáng đẹp nhất trong ngày, chính là ánh sáng sắp tắt - hoàng hôn.
Một que... diêm - có thể là ẩn dụ của một đốm sáng, một hơi ấm, một ký ức, một tia hy vọng nhỏ nhoi, hoặc chỉ đơn giản là ngọn lửa cuối cùng sót lại trong cuối buổi hoàng hôn. Ba dấu chấm, đặt vào câu thơ, đã làm câu thơ rơi tự do trong một khoảnh khắc, khiến Khúc Tháng Chín kết thúc, khi người đọc còn chưa chuẩn bị tư thế rời khỏi bài thơ, rời khỏi những gì, mà nãy giờ, tác giả đương giãi bày cùng bạn đọc.
Khúc Tháng Chín, không cứu được thời gian, không gọi được người đã đi xa, nhưng vẫn có thể thắp lên một que diêm nhỏ soi vào ký ức, khi mà chung quanh, hoàng hôn đang phủ tối xuống dần.
******
III. Này Tháng Chín, Mùa Thu Về Như Thể
III.1. Em Xạ Hương Từ Quá Khứ Tôi
Tháng Chín trong Khúc Tháng Chín, không chỉ là thứ tự tháng thứ chín trên cuốn lịch treo tường. Tháng Chín trong Khúc Tháng Chín của Du Tử Lê, còn là thời gian của hồi tưởng về một đời người.
Con người không chỉ sống cạnh chiếc đồng hồ, cứ đều đặn tích tắc, tích tắc từng giây. Con người còn có một thứ đo thời gian khác, đó là thời gian của tâm hồn, nơi một khoảnh khắc thôi, cũng có thể kéo dài bằng cả một quá khứ.
Triết gia Pháp Henri Bergson từng bàn sâu về khái niệm durée - thời gian được sống và được cảm nhận trong ý thức, khác với thứ thời gian được chia đều thành những đơn vị để đo đếm bằng đồng hồ; trong durée, những trạng thái của ý thức không đứng tách rời nhau mà thấm nhập vào nhau, để quá khứ có thể tiếp tục hiện diện trong hiện tại. Một mùi hương, một cơn mưa, một câu nói bất chợt, vẫn có thể kéo cả một quá khứ dài trở về trong tích tắc. Ý niệm này soi sáng rất rõ cho câu thơ “em xạ hương từ quá khứ tôi". “Em”, không còn là một hiện tại đang sống, mà là cả một quãng thời gian đã qua, được nén lại trong một mùi hương duy nhất, chỉ chờ một khoảnh khắc là bùng lên trọn vẹn.
******
III.2. Bởi Hôm Qua Có Kẻ Đã Qua Đời
Từ hai câu - bởi hôm qua có kẻ đã qua đời - và - em xạ hương từ quá khứ tôi - có thể mở ra một suy tưởng rộng hơn, rằng, cái chết không hoàn toàn xoá bỏ một con người. Người đã mất vẫn tiếp tục tồn tại, chừng nào còn có ai đó giữ họ trong ký ức. Thế nên, tình yêu, ở một góc nhìn nào đó, chính là khả năng chống lại sự lãng quên, là cách con người từ chối để một người khác biến mất hoàn toàn khỏi thế giới này.
Ý này khiến tôi nhớ đến những câu thơ của Xuân Quỳnh trong bài thơ Sóng - làm sao được tan ra / thành trăm con sóng nhỏ / giữa biển lớn tình yêu, để ngàn năm còn vỗ.
Cả Du Tử Lê lẫn Xuân Quỳnh, đều đưa tình yêu ra đối diện với sự hữu hạn của kiếp người, đều muốn tình yêu vượt khỏi giới hạn của một đời sống riêng tư ngắn ngủi nhưng hướng đi của họ thì khác nhau. Xuân Quỳnh mong tình yêu được trường tồn, hoá thân vào thiên nhiên để sống mãi. Còn Du Tử Lê, ông “hiểu chuyện” hơn, ông không mong tình yêu bất tử, mà ông chỉ mong, con người còn được nhớ tới trong tình yêu của họ, còn "xạ hương" được trong ký ức một người, sau khi tất cả đã qua đi.
******
III.3. Chàng Phục Sinh Như Một Giấc Mơ
Câu thơ - chàng phục sinh như một giấc mơ - khiến tôi không thể không liên tưởng tới ý nghĩa Phục Sinh trong Kitô giáo, sự sống lại sau cái chết.
“Phục sinh" này trong Khúc Tháng Chín, đã kéo theo cả một trường liên tưởng về cái chết, sự sống, hy vọng và sự trở về. Nhưng Du Tử Lê đã không dùng “phục sinh” như một tuyên xưng đức tin, mà ông mượn hình ảnh tôn giáo ấy để diễn tả sự sống lại của một tâm hồn nhờ tình yêu, một sự phục sinh rất người, rất trần thế.
Một điều cũng cần nói đến ở đây, đó là, Du Tử Lê là một người làm thơ tinh tế. Ông tinh tế, ví dụ như, ngay chỗ này đây, sau khi nói đến từ “phục sinh”, ông lập tức làm mềm đi sự chắc chắn của mình bằng cụm từ - như một giấc mơ. “Phục sinh” vì vậy, trở nên mong manh và có thể tan biến bất cứ lúc nào.
Tình yêu có thể cứu một con người khỏi cái chết của tâm hồn, nhưng nó không có khả năng chiến thắng hoàn toàn quy luật khắc nghiệt của đời sống. Quy luật đó là, mọi thứ, kể cả những thứ đẹp đẽ nhứt trong cõi nhân gian này, đều cũng sẽ rồi qua.
******
III.4. Chàng Đứng Lại Bên Kia Bờ Nước Cuốn
Câu thơ - chàng đứng lại bên kia bờ nước cuốn / em bên này có lạnh đôi bàn tay? - có thể mở rộng thành một suy tưởng về thân phận con người, nói chung. Ai trong đời mà chẳng từng, ít nhứt một lần, đứng trước - bên kia bờ.
Bên kia bờ - bờ của quá khứ đối lập với hiện tại, bờ của sự sống đối lập với cái chết, bờ của gặp gỡ đối lập với chia lìa, bờ của nhớ nhung đối lập với quên lãng, bờ của thuộc về đối lập với tự do.
Thế nên, nỗi đau trong tình yêu ấy mà, đôi khi, chẳng phải là do hai người hết yêu nhau, mà là, dẫu vẫn còn rất yêu, nhưng lại không thể đứng chung được trên cùng một bờ nữa.
Hàn Mặc Tử, há chẳng phải từng viết đó sao:
Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi bỗng dại khờ.
Câu thơ của tài thơ xưa, mang đặt cạnh hình ảnh "hai bờ" của Du Tử Lê, càng làm nổi bật cảm giác khiếm khuyết của tình yêu, khi người kia đã đứng ở phía bờ không sao còn với tới được nữa.
******
III.5. Hồn Hải Điểu Có Bao Giờ Quy Thuận ?
Hải điểu là loài chim biển. Hải điểu gắn liền với không gian rộng lớn, với gió, với những chuyến bay không bến đỗ. Và vì thế - hồn hải điểu - được nhắc đến trong bài thơ, có thể được ta đọc như, bản năng tự do vốn có trong mỗi con người.
Nhưng tình yêu, tự bản chất của nó, lại đòi hỏi sự gắn bó, sự thuộc về. Vì thế câu hỏi - có bao giờ quy thuận - thực chất là câu hỏi muôn thuở của con người ta về cái gọi là tự do và ràng buộc.
Tư tưởng Hiện Sinh cũng từng nói nhiều về nghịch lý này: con người ý thức sâu sắc về tự do của mình, nhưng chính sự tự do ấy cũng có thể đem đến cảm giác lo âu, bất an và cô độc, bởi con người phải tự lựa chọn và tự chịu trách nhiệm về đời sống của mình.
******
III.6. Này Tháng Chín, Lược Đời Tôi, Hãy Chải
Hình ảnh - lược đời tôi, hãy chải - gợi một suy ngẫm giản dị mà thấm thía, đời người giống mái tóc, thời gian giống chiếc lược, và mỗi ngày trôi qua là một sợi tóc rụng xuống. Con người càng cố níu giữ, càng nhận ra rõ hơn rằng, không gì có thể lấy lại được những điều đã mất.
Cảm thức này không xa lạ gì với văn chương cổ điển Việt Nam. Nguyễn Du, trong Truyện Kiều, từng viết:
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ.
Hay câu mở đầu quen thuộc:
Trăm năm trong cõi người ta
Cũng ngộ, hai nhà thơ, cách nhau hàng mấy trăm năm, lại có cùng chung một mạch cảm thức của văn chương Việt về sự ngắn ngủi, mong manh của kiếp người trước dòng thời gian miệt mài, không ngừng trôi chảy.
******
III.7. Hoàng Hôn Em, Tôi Gửi Một Que Diêm
Nếu hoàng hôn là cuối ngày, tháng Chạp là cuối năm và người đã qua đời là một sự chấm dứt, thì que diêm chính là thứ ánh sáng nhỏ bé cuối cùng còn sót lại giữa tất cả những kết thúc ấy.
Mới hay, con người ấy mà, không làm sao mà thắng được thời gian bằng cách giữ mãi tuổi trẻ hay níu mãi những gì đã có.
Nếu có thể, thì con người chỉ có thể chống lại sự mất mát bằng ba thứ, ký ức, tình yêu, và nghệ thuật.
Thơ, trong trường hợp này, chính là một que diêm nhỏ mà Du Tử Lê đã gửi vào bóng tối của thời gian. Tuy không đủ sức xua tan cả đêm nhưng cũng đủ cho một khoảnh khắc, nếu có ai bước ngang qua, thì vẫn còn nhìn thấy một đốm sáng.
Đời người hữu hạn, ngắn ngủi nhưng một bài thơ, một tác phẩm nghệ thuật, vẫn có khả năng lưu giữ lại, hoặc một tiếng nói, hoặc một tình yêu, hoặc một nỗi đau, thậm chí, còn lâu hơn cả đời sống của chính người đã tạo ra nó.
******
IV. Này Tháng Chín, Mùa Thu Về Rất Sẽ
Khúc Tháng Chín của Du Tử Lê không kể một câu chuyện tình theo lối thông thường, có đầu có cuối, có gặp gỡ có chia ly, rành mạch.
Khúc Tháng Chín là một dòng tâm tưởng, nơi mùa thu, tháng Chín, tháng Chạp, cơn mưa, cỏ cũ, hải điểu, bình minh, mái tóc, con đường, hoàng hôn và que diêm cùng kết lại thành một thế giới biểu tượng riêng, nói về thời gian, tình yêu, ký ức và mất mát, những đề tài muôn thuở của thi ca, nhưng lại được Du Tử Lê viết bằng một giọng rất riêng, không giống bất kỳ ai.
Điều làm nên phong cách Du Tử Lê, qua Khúc Tháng Chín, chẳng hạn, trước hết là giọng thủ thỉ, độc thoại, như một người đang nói chuyện với một người vắng mặt. Và người đương nói, không chờ đợi câu trả lời, chỉ cần được nói ra.
Phong cách riêng ấy của Du Tử Lê, còn là khả năng biến những vật rất đỗi bình thường thành biểu tượng, chiếc lược, sợi tóc, con đường, que diêm. Trong Khúc Tháng Chín, còn có sự giao hoà đặc biệt giữa tình yêu và cảm thức hiện sinh; những liên tưởng tôn giáo không xuất hiện như một hệ thống giáo lý, mà được đưa vào bài thơ qua những từ rất đỗi trần thế như “từ tâm”, “phục sinh”, “thánh thiện”.
Phong cách riêng ấy của Du Tử Lê, còn là tài thơ, khi khiến nỗi chết thoát ra khỏi dấu chấm hết; khi khiến ký ức, tình yêu và thơ ca được hiện ra rõ ràng, hệt một tấm gương chỉ sáng lên khi có bóng tối đứng phía sau.
Khúc Tháng Chín được mở đầu bằng - này tháng Chín - và kết thúc cũng bằng - này tháng Chín. Vòng tròn ấy khiến tháng Chín trở thành cả điểm khởi đầu lẫn điểm kết thúc của bài thơ.
Tháng Chín giờ đây, với tôi, sau khi đọc Khúc Tháng Chín của Du Tử Lê, không còn là tháng của cuốn lịch nữa, mà đã trở thành mùa của ký ức, mùa của tình yêu, mùa của chia lìa, mùa của những người đứng bên đường nhìn thời gian lặng lẽ đi qua mà không thể giữ lại điều gì.
Và câu thơ cuối cùng của bài thơ, vẫn như còn vang mãi - hoàng hôn em, tôi gửi một que... diêm. Một que diêm nhỏ bé vô cùng trước buổi hoàng hôn nhạt nhòa che phủ, một đời người rất ngắn trước thời gian vô tận, một tình yêu rất mong manh trước sự lãng quên đang rình rập chờ sẵn ngoài kia, nhưng có lẽ, chính vì nhỏ bé, mong manh, hữu hạn đến vậy, nó mới càng đáng được nâng niu, càng đáng được nhắc tới, càng đáng để một người ngồi xuống viết thành thơ.
Du Tử Lê đã không cố làm cho nỗi buồn của mình thê lương. Trái lại, ông đặt nỗi buồn ấy xuống, rất khẽ, như một lời nói nhỏ, như một sợi tóc rơi chẳng ai nghe thấy tiếng, như một con đường cũ đã lâu không ai đi, hay như một que diêm được lặng lẽ gửi lại trong buổi hoàng hôn.
Và rồi, Khúc Tháng Chín cứ thế ngân lên, không như tiếng trối trăng của một người đã khuất, mà như tiếng nói rất khẽ của một người vẫn còn đứng lại đó, giữa một mùa thu đang qua, cố gắng gọi tên những gì thời gian đã mang đi mất, dẫu biết rằng, có gọi tên, thì cũng chẳng lấy lại được gì, nhưng vẫn cứ gọi, vì đó là cách duy nhứt để giữ cho ký ức không sụp xuống như bóng hoàng hôn và tắt hẳn.
Khúc Tháng Chín của Du Tử Lê đã được nhạc sĩ tài hoa Trần Duy Đức phổ nhạc. Sẵn, tôi cũng rất muốn khoe, tôi cũng có một bài thơ, viết năm 2019, và được anh Trần Duy Đức phồ nhạc vào năm 2020. Bài thơ có cái tên thiệt mông lung, thiệt hư ảo, mông lung và hư ảo như cõi người vậy đó - Dường Như.
Bài lục bát Dường Như của tôi, cũng là ca từ của nhạc phẩm: nỗi dường như gió lũng sâu / lối qua tìm mộng ngủ đâu để bờ / trắng sương bãi muộn neo chờ / ngọn treo lá đợi lặng tờ một cơn / cuối trời cố lý về mơn / giọt dường như khóe buồn hơn đã vào / cội xương mưa đổ vội rào / cánh mang ướt hỏi khi nào hạt thôi / mật bao giờ sánh từng đôi / rưới thơm lên ngọt bờ môi ướp tình / sẽ dường như buổi chúng mình / thuở từng có rất yên bình nẻo yêu / dốc đời hoa cỏ du phiêu / bước ngày xuống mỏi hiu hiu cõi màu / bóng thời gian thoáng đôi sầu / giấc tương tư khói mây đầu dường như… .
Tháng Chín này, là tháng sinh của tôi. Tháng Chín, tháng của mùa thu, tháng của nhè nhẹ, se sẽ, khẽ khàng, hương thu.
Xin được tặng bài viết này cho chính tôi, cho tất cả các bạn sinh vào tháng Chín, tháng của mùa thu. Các bạn có đang nghe chứ:
Này Tháng Chín, Mùa Thu Về Rất Sẽ!
Kỷ Niệm Ngày Sinh
15.09.2026
Phạm Hiền Mây
Nguồn: Fb Phạm Hiền Mây
