
Thiết kế bìa và Trình bày sách:
Đào Nguyên Dạ Thảo
Đào Nguyên Dạ Thảo
Tranh bìa:
Đinh Cường
Xuất bản lần đầu
Thanh Vân, 1992
Tái bản
Hội Quán Văn Hóa Việt, 2025
ISBN: 9798319684851
Tác giả trân trọng cám ơn quý bạn trong Hội Quán Văn Hóa Việt, Họa sĩ Đào Nguyên Dạ Thảo, và Nhà báo Đinh Quang Anh Thái đã khuyến khích và giúp tái bản cuốn sách này năm 2025.
Mục Lục
Lời giới thiệu 11
Nói chuyện thơ 21
Tiếng nói thành thơ 36
Mắt nhìn và tiếng nói hồn nhiên 49
Đọc thơ mình 63
Thần chú 84
Ngày mới ngày ngày mới 103
Vẻ bình thường mới mẻ 122
Chất thơ trong văn 135
Thấy con voi biết là con voi 149
Lấp ló sau mành 162
Trò chơi mới bằng ngôn ngữ 176
Tiếng nói giữa mọi người 190
Sống chung trong tiếng nói 210
Làm thơ khi đọc thơ 226
Bài thơ một huyền nhiệm 241
Mỗi chữ đều có duyên cố 259
Say, tỉnh, khéo, tự nhiên 274
Ngâm tẩm hong phơi 287
Phụ lục I 312
Phụ lục II 331
Phụ lục III 345
Phụ lục IV 357
Phụ lục V 360
Lời giới thiệu: Thơ Như Là Thở, Thở Đi!
Trên trang facebook cá nhân, tôi có sở thích post ảnh chụp, kèm theo vài câu thơ của mình hoặc trích dẫn thơ ai đó, để nói về tấm ảnh. Và đã không ít lần, tôi trích thơ Đỗ Quý Toàn khi post ảnh. Những câu thơ nói hộ lòng tôi. Chẳng hạn, chụp được bức ảnh một góc vườn mùa xuân tươi đẹp, khi chia sẻ niềm hân hoan ấy lên facebook, tôi kèm mấy câu trong bài thơ Chuyện Tình của Đỗ Quý Toàn: “Ở một cành ngang có một tổ kiến/Có con đi ra có con đi vào/Trời hôm nay nắng, yêu em xiết bao…” Lần khác, post bức ảnh cô con gái vừa bước vào tuổi 17 đang tung tăng nhảy múa, tôi lại “vịn” vào đoạn thơ “Các thiếu nữ chân trên mặt đất/Những trái đất quay trong tinh hà…” của ông, thấy rất hợp, rất hay.
Dùng thơ minh họa ảnh, dùng ảnh minh họa thơ- là một kiểu “nói” trên facebook. Tôi ưa thích kiểu nói ấy. Đồng thời phát hiện ra rằng: post ảnh kèm vài câu văn xuôi thường không thú vị, không hấp dẫn bằng post ảnh kèm với vài câu thơ, câu vè có vần có điệu. Ảnh kèm thơ bao giờ cũng nhận được số lượt likes, comments nhiều hơn, hào hứng hơn. Thậm chí bạn bè tôi còn vào đối đáp, xướng hoạ theo mấy câu thơ trong post. Việc bàn luận về bức ảnh trở nên rôm rả, sôi động hơn, và có khi còn vượt ra ngoài nội dung bức ảnh. Rõ ràng ở đám đông (facebook) này, thơ “nói” được nhiều hơn, thu hút hơn so với việc dùng văn thông thường khi chia sẻ. Nhận ra điều đó nhưng lâu nay tôi không buồn thắc mắc tại sao. Cũng như không thử lý giải tại sao mình vẫn thích thơ, thú vị với thơ, dùng thơ… trong đời sống hàng ngày như thế.
Cho đến khi đọc được quyển sách này – Tìm Thơ Trong Tiếng Nói – tôi mới á à… “vỗ đùi đánh đét”!
Quyển sách này không chỉ bàn về Nói hay bàn về Thơ, nó còn bàn về Sống. Bởi “người ta không sống trong một đất nước, người ta sống trong một ngôn ngữ. Tổ quốc chính là ngôn ngữ chứ không phải bất kỳ cái gì khác” (Emil Cioran). Đơn giản như việc chúng ta đang sống và hít thở mỗi ngày cùng facebook và mạng xã hội… Chúng ta đang nói thế nào ở đó? tại sao ở đó tôi chỉ muốn nói bằng tiếng mẹ đẻ? tại sao nhiều lúc tôi lại chỉ thích nói bằng thơ? tại sao tôi ưa chọn thơ chứ không phải văn để nói về một bức ảnh, một tấm tranh? tại sao không phải hội hoạ hay âm nhạc mà thơ mới là thứ khiến mình cảm nhận nhanh nhất, dễ nhất?… Đọc quyển sách này, tôi như đứa học trò được một ông thầy uyên bác và tài hoa, đam mê và duyên dáng, mở ra từng cánh cửa, trả lời từng câu hỏi, giải đáp từng câu chuyện, về Thơ.
“In the end we’ll all become stories” (Margaret Atwood)- “Đến cuối cùng, tất cả chúng ta đều trở thành những câu chuyện”. Câu chuyện hồn nhiên trong bài Chuyện Tình của thi sĩ Đỗ Quý Toàn viết từ 65 năm trước, lúc tôi còn chưa ra đời, bỗng trở thành câu chuyện của tôi bây giờ trên facebook, khi tôi muốn khoe một bức ảnh của mình. Mấy câu thơ ấy bật ra trong đầu tôi từ xúc cảm trong tim tôi có sẵn với nó trước đó. “Đọc một câu thơ, trong phút chốc bao nhiêu hồi ức của chúng ta về tiếng Việt mở tung ra. Chúng ta tiếp nhận câu thơ bằng cả kho hồi ức tiếng nói. Chúng ta không phân tích và lý luận, mổ xẻ câu thơ. Những ẩn dụ (métaphore) và hoán dụ (métonymie) cùng hiện lên toàn thể, trên một màn ảnh… Có người quả quyết rằng ngôn ngữ là một sinh vật. Chúng ta là những cơ phận ở trong sinh vật đó. Người làm thơ và người đọc thơ chạm vào nhau như dòng điện giữa hai tế bào ở trong một mô chạm vào nhau. Ngôn ngữ rung lên. Chúng ta chạm được vào nhau vì cùng ở trong cái sinh vật gọi là tiếng Việt”. (trang 25- Tìm Thơ Trong Tiếng Nói). Tôi vỡ lẽ tại sao nhiều lúc mình chỉ muốn chọn thơ để nói điều gì đó trên facebook, hơn là viết bằng văn xuôi: “Nếu một bài văn chỉ nói được đúng các điều ở mấy chữ, mấy lời chứa trong bài, thì nó không mở ra được không gian nào mới cho người đọc ngao du. Bài thơ hay đưa chúng ta đi qua bao cõi phù du vì mỗi chữ, mỗi lời nhảy nhót linh hoạt… Trong hồi ký Ánh Sáng và Bóng Tối- Nguyễn Bá Trạc viết: “… dần dần tôi nghiệm ra rằng, đôi khi, nhờ mấy câu thơ, tôi đã phô diễn được một vài cảm nghĩ mà nếu viết văn xuôi, chưa chắc tôi đã nói lên hết được” Nếu người chưa từng viết văn thì không hiểu thơ được như vậy” (trang 62)
Tìm Thơ Trong Tiếng Nói có một điều đặc biệt: hầu như mở trang sách bất kỳ nào ra tôi cũng có thể tìm được một nhận định thú vị về thơ, gần giống như là ‘bói Kiều’ vậy! Nói nôm na là ở đây ta cũng có thể ‘bói Thơ’ nếu muốn. Tôi xin ‘lật’ ra đây một vài ‘quẻ’ làm ví dụ, trong số gần 200 trang sách ấy:
“Không ai biết tiếng nói xuất hiện từ đời nào. Nhưng những con người đầu tiên phát minh ra các tiếng đều là thi sĩ cả” (trang 13)
“Nhu cầu dùng tiếng mẹ đẻ rất tự nhiên, và tiếng nói hồn nhiên, đột khởi nhất là thơ…
Nhu cầu nói tiếng mẹ đẻ và nhu cầu làm thơ liên hệ với nhau. Vì cả hai đều có gốc rất tự nhiên, ở trong mỗi người, và cả hai đều liên hệ đến những xúc động mạnh nhất, sâu nhất” (trang 22)
“…thi sĩ Ezra Pound định nghĩa tiếng nói thơ như là nước cốt, là tủy của tiếng nói. Nó là tiếng nói đã được cô đọng lại… Tiếng nói hàng ngày nó loãng, nó ở ngoài da, là vì người ta dùng nó chỉ để chuyên chở thôi. Nó giống như loại thực phẩm ta ăn cốt lấy no bụng và bổ dưỡng. Còn tiếng nói thơ là haute cuisine, nghệ thuật nấu ăn: mắm muối, gia vị, chín tới hay là tái tái, bày món ăn cách nào… Hàng ngày ai cũng ăn, cũng nấu nướng, nhưng thi sĩ mới là “chef” của tiếng nói” (trang 16)
“Hàng ngày chúng ta sống theo “lối đọc văn xuôi”. Ngôn ngữ mòn, phai, nhạt nhẽo, tự động. Thơ làm cho ta kinh ngạc, bắt ta phải bật thức dậy, mở đôi mắt hồn nhiên” (trang 24)
“Khi đọc thơ chúng ta không dùng tự điển, chúng ta vận dụng cả cuộc đời mình. Tùy cách chúng ta đã sống và nói, nghe thế nào, bài thơ sẽ khác đi” (trang 26)
“Trong công việc sử dụng ngôn ngữ của loài người, lời và tình ý gắn thật chặt vào nhau nhất là khi chúng ta la hét, chửi thề, rên rỉ, và khi ta làm thơ, hay đọc thần chú. Chúng ta sẽ thấy, làm thơ cũng không khác đọc thần chú là bao” (trang 41)
“Lời nói trong thơ có đặc tính của những thần chú, mật ngữ. Nó tạo nên những ảnh hưởng mà lý trí, óc phân tích, óc duy lý không thôi không tiếp nhận được” (trang 42)
“Tôi đoán rằng chúng ta nặng tình với thơ, hơn là với họa và nhạc, bởi vì thơ dùng tiếng nói, mà tiếng nói ở ngay trong chúng ta, là một phần của chúng ta. Chúng ta thường phát triển khả năng dùng tiếng nói trước khi biết dùng các phương tiện truyền đạt khác. Tiếng nói dùng hơi thở, và hơi thở ở ngay trong chính mình, là nguồn sống và nhịp sống của chính mình. “Ngôn ngữ của thân tâm” gần gũi nhất, tự nhiên nhất là tiếng mình nói, là thơ….Ngay từ khi lọt lòng mẹ, chúng ta đã biết dùng thanh quản và mồm miệng để phát ra những tiếng có ma lực, kỳ diệu, khiến mẹ phải vội mở yếm cho bú, như thể mẹ rất lấy làm ân hận đã để cho chúng ta phải rời khỏi nơi trú ẩn êm ái đầu tiên là trong bụng mẹ” (trang 47)
“Thơ trở thành thơ vì đó là tiếng nói đưa chúng ta ra khỏi lối nói hàng ngày. Ra khỏi lối nói hàng ngày, chúng ta bị kích thích để cảm thọ thế giới chung quanh bằng một cách mới. Thế giới quen thuộc bỗng trở thành mới mẻ” (trang 53)
“Tiếng nói chí thành là thơ. Vì người nói sống mãnh liệt những lời nói đó. Sống văn xuôi là sống bằng thiệp in sẵn, các bức tranh in lại. Sống thơ là vẽ lấy tranh của mình, tự mình cất tiếng hát” (trang 58)
“Chất thơ của một ngôn ngữ, một nền văn hóa, đem sang ngôn ngữ khác sẽ biến đi. Như Robert Frost bảo cái gì dịch không nổi thì cái đó là thơ”, (trang 65)
“So sánh thơ cũng giống như so sánh hai khuôn mặt. So sánh văn xuôi như so sánh hai hình kỷ hà” (trang 85)
“Những câu thơ mở ra các tình ý hoang mang bao giờ cũng làm chúng ta quyến luyến hơn” (trang 113)
“Bài thơ độc đáo làm người đọc nhớ các đặc điểm về ngôn ngữ của nó, như nhớ một nét mặt người. Còn bài thơ tầm thường thì giống như cái dấu hiệu “cấm hút thuốc”; người đọc có thể nhớ đại ý nó nói gì, còn cách nói như thế nào không nhớ. Nếu nói lại cách khác cũng chẳng sao. Bài thơ hay, cũng như mặt người, biểu lộ một ngôn ngữ có cá tính…. Người viết văn xuôi vẫn có cá tính, nhưng ở thơ cá tính nổi lên thành chủ yếu, hàng đầu. Đọc bài thơ như gặp, bắt tay với một người, nhìn chăm chú vào nét mặt, rồi không quên được. Điều đó ở trong văn cũng có, khi văn có chất thơ” (trang 79)
“Đọc thơ, như vậy chắc khó hơn là đọc văn. Nó đòi hỏi người đọc phải tham dự tích cực hơn. Văn xuôi có khi như món ăn đóng hộp, mở ra ăn liền được. Thơ thì chính người muốn ăn phải tham dự việc nấu nướng” (trang 86)
“Những thế hệ thi sĩ tiếp nối nhau, mỗi thế hệ lại nghe gió thổi như nghe tiếng gió lần đầu. Nhờ các cách xếp đặt, bày biện tiếp nối mới mẻ” (trang 102)
“Ngôn ngữ như một sinh vật mà người đọc và thi sĩ là những tế bào trong đó” (trang 144)
“…ví thơ giống như nụ hôn cũng không phải nói giỡn thôi đâu. Nhưng thơ là một cái hôn gián tiếp. Người làm thơ chạm môi vào ngôn ngữ. Người đọc thơ cũng chạm môi vào ngôn ngữ. Ví thơ với hôn làm nổi bật một đặc tính đã nêu lên trước đây, là “thơ là một hành động.” Người đọc thơ phải đóng vai trò chính trong bài thơ. Phải sống cùng bài thơ. Phải tham dự. Nếu không thì chẳng khác gì đọc bản chỉ dẫn cách dùng máy hút bụi, cách tháo ráp một cái cưa máy, đó là những thông điệp kín, đóng cửa” (trang 183)
“Chúng ta luôn luôn thèm muốn sáng tạo ngôn ngữ, bày đặt ra các trò chơi mới mẻ. Đó là cái nghiệp của kiếp người” (trang 87) …
Lật ra trang nào cũng có thể tìm thấy một luận đề về thơ như thế- nhưng Tìm Thơ Trong Tiếng Nói lại là một câu chuyện liền mạch quấn quýt với nhau. Đỗ Quý Toàn cùng lúc là người làm thơ- người đọc thơ và người bình thơ, trong quyển sách này ông kết hợp cả ba vai trò đó một cách say sưa mà tỉnh táo, uyên bác mà gần gũi, như một người bạn tâm giao đầy tin cậy. Tác giả đã phối hợp hai nửa trái và phải của não bộ một cách tài tình để nói về Thơ. Bởi như phân tích của ông: “Một người “nói giỏi” là người nói năng rành mạch, có lý luận vững chắc, nửa bên trái của não bộ rất tốt. Nhưng làm thơ không phải “nói giỏi” theo nghĩa đó. Bài “thơ hay” truyền từ tâm người này sang tâm người khác, nghĩa là khêu gợi, dẫn dụ một cảm giác trọn vẹn, cảm giác do nửa bên phải của não bộ phát hiện. Viết một bài bình luận về thơ, bàn về thơ, như bài này, phần lớn là sử dụng nửa bên trái. Làm thơ, thưởng ngoạn thơ phải dùng bên phải; nhưng vì thơ là ngôn ngữ, mà ngôn ngữ lại là khả năng do nửa bên trái phụ trách, nên làm thơ, đọc thơ phải nối hai nửa bộ óc lại với nhau” (trang 174). Khi đọc những tiêu đề thú vị “Làm Thơ Phở”, “Đứng Im Ngoài Hàng Giậu”, “Lấp Ló Sau Mành”, “Tiếng Ngựa Buồn Teo”, “Hỏng Biết”, “Ngâm Tẩm Hong Phơi”… tôi như thấy miệng cười tủm tỉm ý nhị của ông. Cái miệng tủm tỉm ngậm tẩu mà Phùng Quán từng nhắc trong lá thư gửi Đỗ Quý Toàn sau khi đọc Tìm Thơ Trong Tiếng Nói (phát hành lần đầu, năm 1992) với những trìu mến thốt lên từ bên kia đại dương xa ngái:
“…Lúc đó tôi thấy yêu bạn quá, và lại lật lại trang bìa bốn ngó lại cái mặt đội mũ cát kết, ngậm tẩu. Nhờ bạn nhắn giúp với Đinh Cường vẽ thêm chút khói bốc trên tẩu thì tôi thú lắm vì ông Toàn không ngậm tẩu để chơi mà đang hút thuốc đây. Và chắc tôi sẽ ngửi thấy mùi thơm thứ thuốc bạn đang hút…
Lật đi, lật lại cuốn sách của bạn trong tay, tôi nảy ra ý nghĩ: chốc nữa mình sẽ gọi ông Toàn sang chơi, uống chén rượu, như mấy ông già nông thôn vẫn thường gọi nhau sang uống nước chè qua hàng rào dâm bụt. Sự cách trở của không gian và mọi luật lệ khốn khổ mà con người bày đặt ra để làm khổ nhau đã bị những cuốn sách hay xóa bỏ”
Phùng Quán viết: “Sách như vầy mà không được nhiều người đọc thì thật đáng tội gọi là phí phạm tặng vật của con người cho con người” (trích thư)
Dù trong quyển sách Đỗ Quý Toàn đã thành thật: “Nghiên cứu và phê bình có thể giúp chúng ta trong việc thưởng thức. Đối với văn nó ích lợi hơn, còn đối với thơ thì ích lợi không có là bao. Ai điếc là cứ điếc mãi” (trang 85).
Tôi bật cười thú vị với từ “điếc” của ông.
Đọc quyển sách này người đọc như tôi thu nhập được rất nhiều kiến thức, trích dẫn nghiên cứu, nhận định về văn chương thơ thú, ngôn ngữ, văn hoá… từ xưa tới nay, từ Đông qua Tây, và rất nhiều vầng thơ hay của nhiều tác giả mà tôi chưa từng biết. Nhưng tôi không choáng ngợp trước khối lượng kiến thức uyên bác phong phú ấy, mà tôi choáng ngợp trước tình yêu của ông dành cho thơ. Một tình yêu mạnh mẽ để viết nên tác phẩm này, hấp dẫn và thuyết phục. Thuyết phục đến từng từ ngữ sử dụng, như cái từ “điếc” ấy.
Nhưng dù ai “điếc” thơ thì cứ điếc, ông Toàn vẫn viết về thơ: “Chuyện thơ cũng như chuyện hạnh phúc. Biết là nên sống hơn là bàn về mấy chuyện đó, nhưng rồi vẫn thắc mắc, cứ bàn. Mỗi lời bàn không giúp cho người nghe hiểu rõ về thơ, hay về hạnh phúc, nhưng sẽ biết thêm về người bàn. Như chuyện họ đã sống thế nào, làm thơ, đọc thơ thế nào. Người bàn chuyện phải thú nhận nói chuyện thơ là nói chuyện mình… Nếu chia sẻ được vài ý tưởng với ai chẳng qua chỉ là vì người ta đã sống qua kinh nghiệm đó rồi ” (trang 7)
Ông thú nhận “nói chuyện thơ là nói chuyện mình” thì tôi cũng thú nhận đọc ông “nói chuyện mình” xong tôi nhận ra không chỉ sắc sảo, lãng mạn, dí dỏm, mà nổi bật nhất ở ông là sự nhân hậu. Yêu thương con người thì mới yêu thơ. Yêu thơ chính là yêu lời tự tình dân tộc. “Nếu chúng ta khó tính bảo rằng mấy vần thơ học trò, mấy bài thơ các bô lão mừng nhau con lấy vợ, cháu thi đậu, v.v… không phải là thơ, tức là chúng ta phủ nhận luôn cả một đặc tính của người Việt, một dân tộc thi sĩ… Ở Việt Nam đi đâu cũng thấy thơ. Đó là một đặc tính, một truyền thống của dân tộc ta. Cho nên tôi vui vẻ nghe một vị đọc mấy câu vè mình viết với đầy vẻ say sưa. Đối với người đọc, đó chính là thơ thật, thơ hay nữa là khác. Không phải nhạc sĩ nào ở Salzburg cũng là một Mozart. Không phải họa sĩ nào ở Ý cũng là một Boticelli. Nhưng tất cả đều làm giàu cho cuộc sống văn hóa của dân tộc họ. Không phải ai viết lục bát cũng hay như Nguyễn Du. Nếu cả nước ai cũng làm thơ lục bát hay cỡ Nguyễn Du thì chắc nước mình sẽ điên hết. Nhưng nếu ai cũng muốn làm hay như Nguyễn Du thì dân mình sẽ rất đáng yêu, rất dễ thương. Thử ngẫm mà coi. Mình không bằng lòng với lối nói tầm thường, nhạt nhẽo. Mình muốn đánh dấu mỗi cảm xúc, nhấn mạnh mỗi ý tưởng bằng những lời nói đẹp. Mình muốn tự mình tạo ra những lời nói đẹp đẽ. Chẳng dễ thương lắm sao?” (trang 11,12)
Những dòng ấy chẳng phải dễ thương tự đáy lòng sao? chẳng làm ta giật mình sao, khi lâu nay nhiều người trong chúng ta vẫn lắm lúc coi thường “cái đồ thơ thẩn”, cười nhạo dân ta “cứ ra ngõ là gặp nhà thơ, mỉa mai Việt Nam là “cường quốc thơ”… mà không thấy đó chính là vốn quý của dân tộc.
Đỗ Quý Toàn phát hành quyển Tìm Thơ Trong Tiếng Nói năm 1992, cũng là năm tôi vừa tốt nghiệp khoa Ngữ văn Đại học Tổng Hợp ở Sài Gòn. Hơn 3 thập kỷ sau, tại Mỹ tôi mới được đọc Tìm Thơ Trong Tiếng Nói. Đọc xong, điều đầu tiên tôi nghĩ đến là giá như quyển sách này là một giáo trình cho sinh viên văn khoa chúng tôi ngày ấy. Chúng tôi cần một ông thầy như ông thầy Toàn biết bao.
Nhưng tôi đồ rằng, nếu ông Toàn mà nghe tôi nói vậy thì sẽ bập bập cái tẩu rồi cười xoà, phẩy tay: Đọc vậy đủ rồi, bây giờ cô cứ tiếp tục làm thơ, trích thơ đăng facebook đi, để tiếp tục “…thấy mình vẫn sống trong ngôn ngữ mẹ đẻ, để giữ lấy cái “cuống rún chưa lìa” nối mình với quê hương. Chứ nói chuyện thơ cho thật sướng cái miệng thì chắc phải nói ở quê hương của ngôn ngữ mình nói, cho bà con cùng tiếng nói với mình nghe. Đến lúc đó chắc mình sẽ kết thúc câu chuyện bằng một lời mời mọc: Thôi, đừng bàn về thơ nữa, bà con mình làm thơ đi!” (trang 175)
Vâng, bà con mình làm thơ đi, đọc thơ đi,
thơ như là thở,
thở đi!
Thúy Hà
California tháng 10 năm 2025
California tháng 10 năm 2025
