
Nụ Tầm Xuân – Ảnh: Internet
Những ai đã từng yêu thích ca dao Việt Nam và nhất là nhạc của Phạm Duy thì không thể nào quên bài hát “Nụ Tầm Xuân” qua tiếng hát của Thái Thanh một thời vang bóng ở Sài Gòn trước đây. Bài hát mượn hình ảnh nụ tầm xuân để gợi lên tâm trạng khắc khoải, nỗi ray rứt khôn nguôi của một đôi trai gái về cuộc tình dang dở mà vì một lý do nào đó họ không đến với nhau được:
Trèo lên, lên trèo lên,
trèo lên, lên trèo lên,
lên cây bưởi hái hoa
Bước ra, ra vườn cà,
bước ra, ra vườn cà,
cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân, ơi nụ tầm xuân
Nở ra, xanh (ơ) biết
Em lấy chồng, em đi lấy chồng
Anh tiếc, tiếc lắm thay!
Một miếng trầu cay, hỡi chàng
Chàng ơi chàng hỡi, nào khó?
Một miếng trầu cay, hỡi chàng
Chàng ơi, khó gì?
Sao anh không hỏi
Sao anh không hỏi
Sao anh không hỏi
Những ngày em còn không?
Giờ đây, đây giờ đây
Giờ đây, đây giờ đây
Ðây em đã có chồng
Em đã, đã có chồng
Như chim, chim vào lồng
Như cá ngậm mồi câu
Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng, biết thuở nào ra
trèo lên, lên trèo lên,
lên cây bưởi hái hoa
Bước ra, ra vườn cà,
bước ra, ra vườn cà,
cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân, ơi nụ tầm xuân
Nở ra, xanh (ơ) biết
Em lấy chồng, em đi lấy chồng
Anh tiếc, tiếc lắm thay!
Một miếng trầu cay, hỡi chàng
Chàng ơi chàng hỡi, nào khó?
Một miếng trầu cay, hỡi chàng
Chàng ơi, khó gì?
Sao anh không hỏi
Sao anh không hỏi
Sao anh không hỏi
Những ngày em còn không?
Giờ đây, đây giờ đây
Giờ đây, đây giờ đây
Ðây em đã có chồng
Em đã, đã có chồng
Như chim, chim vào lồng
Như cá ngậm mồi câu
Cá cắn câu, biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng, biết thuở nào ra
Bài ca dao nội dung như sau:
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân;
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em lấy chồng anh tiếc lắm thay.
Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân;
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em lấy chồng anh tiếc lắm thay.
Ba đồng một mớ trầu cay,
sao anh không hỏi những ngày còn không?
sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra!
Bài ca dao vỏn vẹn chỉ có mười câu thơ hay năm cặp câu lục bát ngắn gọn diễn đạt rất nhẹ nhàng tinh tế nhưng lại mang một tâm trạng nặng trĩu, một sự nuối tiếc xót xa với nỗi đau khổ, nuối tiếc trong tình cảnh éo le của những người trong cuộc.
Mấy câu thơ trên là những lời tỏ tình muộn màng nhưng vẫn nồng nàn tha thiết. Khi tình yêu và hôn nhân không đồng hành với hạnh phúc thì những đôi lứa yêu nhau trên đời dường như đều mang nỗi niềm hối tiếc về một hình bóng và kỷ niệm nào đó thấp thoáng trong màu xanh biêng biếc của loài hoa tầm xuân này. Hoa tầm xuân đã trở thành một văn ảnh xinh đẹp trong thơ ca và trong đời sống tình cảm của nhân dân ta.
Đi tìm nguồn gốc của bài ca dao nầy người viết bắt gặp được nhiều chi tiết khá thú vị:
Trước hết ta phải tìm hiểu về cây tầm xuân trước đã:
Theo bách khoa toàn thư mở Wikipedia Tầm Xuân là loài cây bụi có chiều cao từ 1-5m, có nguồn gốc châu Âu, Tây Bắc Phi và Tây Á. Hoa thường có màu hồng nhạt, biến đổi từ màu hồng đậm đến trắng. Vì tầm xuân có hoa đẹp nên nhiều nơi trồng làm cây cảnh. Tầm xuân có một số hoạt chất chống ôxy hóa. Quả tầm xuân có lượng vitamin C cao và dùng để làm Xi rô, trà… Trong Ðông y, tầm xuân là một vị thuốc. Người ta thường thu hái hoa, quả, cành và rễ để làm thuốc. Theo quan niệm của Đông y, tầm xuân có công dụng thanh nhiệt, lợi thấp, trừ phong, hoạt huyết, chỉ huyết, giải độc, giảm đau, thường dùng để chữa các bệnh như hoàng đản, thuỷ thũng, lỵ, tiêu khát, tiêu chảy, tiểu dầm ở trẻ em…
Theo công trình nghiên cứu của Nguyễn Xuân Đức thì có một loại hoa họ đậu được phân phối nhiều ở duyên hải miền Trung Việt nam có tên là Tầm xuân hay còn gọi là hoa Đâu biếc có màu xanh tím.
Theo nhà thực vật học, giáo sư Nguyễn Thiện Tích ở Đai Học Khoa Học đường Saigon [nay là Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên] thì giống hoa này có chung một họ mà tên khoa học là Clitoria. Cái tên thật dễ gợi đến phần nhạy cảm nhật trong cái “vưu vật tôn nghiêm” của cơ thể phụ nữ: “Clitoris”. Thuộc dòng họ Clitoria này có những chi mariana, blue pea, vine, fragan, macrophylla, alba, …
Hoàng Phủ Ngọc Phan trong một bài viết đăng trên báo Tuổi Trẻ cũng có cách lý giải riêng của mình: Hoa tầm xuân là hoa gì ra sao ở đâu… thì hỏi mười nhất là các bạn trẻ có đến bảy tám đều không biết. Còn những người nói là biết thì mỗi người biết một cây tầm xuân nào khác. Lại có người bình luận một cách dí dỏm: Nụ tầm xuân nở ra vàng rực. Em đi lấy chồng anh bực lắm thay… Nụ tầm xuân nở ra thơm phức. Em có chồng rồi anh tức lắm thay… Cứ như giọng điệu nầy thì hình như tác giả không tin rằng hoa tầm xuân trong ca dao là có thực. Rất có thể nó cũng tương tự như loài Hoa Vông Vang trong tiểu thuyết của Đỗ Tốn thời Tự Lực Văn Đoàn hoặc như ngọn Lá Diêu Bông trong bài thơ của Hoàng Cầm- những hoa ấy lá ấy đều chỉ là sản phẩm trong thế giới ảo của thơ ca lãng mạn.. Phải chăng đây cũng chính là điều mà nhà thơ Lưu Quang Vũ đã từng viết: Hoa tìm mùa Xuân suốt đời không gặp. Anh suốt đời chẳng gặp sắc tầm xuân… Có lần anh đem thắc mắc nầy ra hỏi một nghệ nhân chơi hoa cao tuổi người miền Bắc. Ông cụ trả lời: “Cái hoa ấy thì vẫn có thật đấy chứ. Nhưng bây giờ đi khắp đầu non cuối biển chưa chắc đã tìm thấy. E rằng đã tuyệt chủng rồi. Cũng may còn mấy câu ca dao chưa đến nỗi thất truyền.” Mặc dầu ông cụ nói vậy nhưng không hiểu sao nhà văn vẫn cứ nuôi chút hy vọng. Miễn là hoa có thực biết đâu rồi cũng có khi may mắn tìm thấy được. Quả nhiên điều may mắn ấy đã đến với anh. Một hôm nhân tra cứu một thuật ngữ y dược anh bỗng tình cờ bắt gặp tấm hình chụp hoa tầm xuân ở trang 977 trong quyển sách Cây thuốc và vị thuốc Việt Nam của Giáo sư Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi (- NXB Khoa học và Kỹ thuật – Hà Nội 1995.) Cây thuộc họ Hoa Hồng (Rosaceae) hoa năm cánh màu xanh biếc. Giáo sư Đỗ Tất Lợi là nhà khoa học rất coi trọng sự chính xác nên tôi tin rằng hoa tầm xuân trong sách của ông chính là hoa tầm xuân trong ca dao mà chúng ta đang có.
Riêng nhà thơ Chu Thị Thơm trong bài Tầm Xuân có cách lý giải riêng của mình khi nhắc về bài ca dao trên thì nhớ đến cây tầm xuân được trồng ở quê nhà thời thơ ấu, chị mô tả là loài hoa được trồng làm hàng rào. Đây là loài hoa bà con thân thuộc của họ hồng, có 5 cánh, xếp chồng lên nhau, mỏng manh và nhiều màu sắc… Khi nở bao giờ cũng từng chùm, với đủ các cung bậc sắc màu đan chen nhưng đầy vẻ phô diễn. Vào mùa xuân từng chùm hoa tung mình phô sắc. Những bông hoa nhỏ xếp vào nhau với muôn màu trắng, hồng, phớt đỏ… mùa xuân hàng rào hoa tầm xuân bắt đầu phô sắc thì ngôi nhà trong trí nhớ của chị giống như quay tròn khép kín trong sắc màu rực rỡ của hàng rào hoa tầm xuân. Nhưng hình như đó không phải là loài hoa tầm xuân “nở ra xanh biếc” mà ta đang ra sức tìm kiếm. Khi lớn lên đi học, đọc bài ca dao, chị bâng khuâng trước cái tình của đôi trai gái, yêu mà không lấy được nhau đến nỗi sinh ra ngẩn ngơ tiếc nuối, nhờ cánh tầm xuân cất hộ lời khó nói. Tôi biết chàng trai si tình trong bài ca dao cổ đã phải mượn cánh tầm xuân để trút nỗi đau tiếc nuối vì không lấy được người con gái mình yêu như thế nào. Nhưng nỗi đau mang màu sắc xanh rất lạ trong bài ca dao đã nói lên một nguyên lý rằng: Sự mất mát và đau đớn mãi mãi là có thật. Chàng trai –nhân vật trữ tình trong bài ca dao cổ đã phải nhờ đến sắc xanh không có của một loài hoa hoang dại để trút nỗi tiếc nuối và trải lòng mình:
“Trèo lên cây bưởi hái hoa
bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
em đã có chồng, anh tiếc lắm thay…”
bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân
nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
em đã có chồng, anh tiếc lắm thay…”
Có lẽ chỉ trong ca dao nỗi nhớ mang một sắc xanh. Và chỉ trong ca dao, những cử chỉ, động tác bất bình thường mới được thừa nhận như nó không vốn có. Tầm xuân đi vào thơ ca và cuộc đời bởi những nguyên do như thế. Khi tình yêu bỏ đi và hạnh phúc không kết trái đơm bông… hoặc cả khi viên mãn cuộc đời, thì con người vẫn rất cần đến loài hoa này để viện dẫn và lý giải cho sự thất vọng và mất mát ấy.
Theo nhiều tác giả như Trần Bảo Thư trong bài “Nụ Tầm Xuân Nở Ra Xanh Biếc”, hình ảnh nụ tầm xuân cũng có một giai thoại khá thú vị: Lịch sử nước ta có ghi lại thời kỳ Trịnh Nguyễn phân tranh. Ai cũng biết danh tướng Đào Duy Từ đã có công rất lớn trong việc giúp chúa Nguyễn giữ vững biên thùy và mở rộng bờ cõi về phương Nam. Đào Duy Từ có tài kinh luân nhưng không thế tiến thân bằng con đường khoa cử ở đất Bắc vì xuất thân từ gia đình xướng ca nên ông đành ngậm ngùi đi về phương Nam lập nghiệp. Noi theo chí lập thân của người xưa, theo cách cũ của Bách Lý Hề, Ninh Thích gõ sừng trâu mà đủng đỉnh ngâm khúc “Ngoạ Long Cương“. Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đã “già” đoán anh hùng giữa chốn trần ai. Rồng mây gặp hội, Đào Duy Từ đã đem hết tài kinh luân giúp chúa Nguyễn an bang tế thế, vững bền biên thuỳ một cõi nguy nga ở phương Nam. Thành tích và chiến công của Đào Duy Từ đến tai chúa Trịnh. Tiếc vì để vuột mất nhân tài, Trịnh Tráng sai người mang lễ vật cho Đào Duy Từ với lời ân hận đã bỏ lỡ cơ hội cho cuộc tương phùng:
Trèo lên cây bưởi hái hoa,
Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân;
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em lấy chồng anh tiếc lắm thay.
Bước ra vườn cà hái nụ tầm xuân;
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc,
Em lấy chồng anh tiếc lắm thay.
Lễ vật và tình ý không chiêu dụ được Đào vì ông đã tìm ra chân chúa, ông đã trả lời Trịnh Tráng:
Ba đồng một mớ trầu cay,
sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra!
sao anh không hỏi những ngày còn không?
Bây giờ em đã có chồng,
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,
Chim vào lồng biết thuở nào ra!
Lời từ chối nhẹ nhàng nhưng khéo léo; Trịnh Tráng lại cho người chiêu dụ một lần nữa; lần này ho Đào quyết liệt hơn:
Có lòng xin tạ ơn lòng,
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen.
Đừng đi lại nữa mà chồng em ghen.
Trịnh Tráng không còn kiên nhẫn nữa; tức giận:
Có ai về tới Đàng Trong,
Nhắn nhe Bố Đỏ liệu trông đường về;
Mải tham lợi bỏ quê quán tổ,
đất nước người dù có như không.
Nhắn nhe Bố Đỏ liệu trông đường về;
Mải tham lợi bỏ quê quán tổ,
đất nước người dù có như không.
Lịch sử còn đó, Thanh Đô Vương Trịnh Tráng và Nội tán Lộc Khê Hầu Đào Duy Từ đã đi vào lịch sử, chuyện chiêu dụ và khước từ cũng đã rõ ràng nhưng câu chuyện văn chương thì vẫn còn là những ẩn khuất. lấy gì làm bằng chứng rằng hai bậc vương hầu Trịnh-Đào đã đối đáp với nhau bằng những câu ca dao như thế. Văn khố nào lưu giữ bút tích của người xưa? Chắc là khó vì xét cho cùng thì đó là những bí mật quân sự. Khó tìm thấy câu chuyện văn chương này trong những thư tịch khả tín nhưng giai thoại thì vẫn đồn đãi, lưu truyền trong dân gian. Không có lửa sao có khói hay là chúng ta dễ dãi một chút, chấp nhận câu chuyện qua lời truyền tụng của nhân gian.
Những năm gần đây, khi tết đến ta thấy một số cửa hàng bán hoa cho ra đời các lọai hoa hoa cát cành còn nụ nhuộm nhiều màu khác nhau cho bắt mắt để bán cho những nhà thích trưng bày làm đẹp trong những ngày xuân, thiết nghĩ họ chỉ ăn theo gọi tên cho “sành điệu” tát nước theo mưa chứ không ăn nhập gì đến nụ tầm xuân chúng ta đang đề cập trong bài nầy. Thực ra nụ tầm xuân mà các nhà bán hoa ăn theo nầy là tên gọi của một loài cây thuộc chi Liễu có tên là Liễu tơ (Pussy willow) chứ không hẳn tên là “nụ tầm xuân” như chúng ta vẫn gọi. Tên gọi “Liễu tơ” của nó là hoa có lông tơ mềm mại như lông mèo. Nụ hoa của loài cây này mọc nhiều theo nách lá và sau đó những chồi non mau chóng mọc ra mang xanh nõn. Ý nghĩa của những cành hoa tầm xuân là sự thịnh vượng, những chồi non nhỏ bé nhưng lại có sức sống mãnh liệt, cũng giống như niềm tin, hy vọng mà mọi người đặt vào năm mới vậy. Không những thế, nụ tầm xuân nếu biết cách bảo quản còn có thể chơi được rất lâu, có khi đến cả năm không héo.
Cũng vì bài ca dao có sức lan rộng rất lớn trong dân gian, nó tiêu biểu cho một cuộc tình dang dở của một đôi trai gái bằng một hình ảnh rất tinh tế, gợi cảm như nhà thơ Chu Thị Thơm đã viết nên nhiều nhà thơ Việt Nam chúng ta thường dùng hình tượng nầy để trải tiếng lòng của mình với ai đó. Tôi xin ghi lại vài đoạn thơ sau của các nhà thơ đã đưa hình ảnh tầm xuân vào thi ca:
Hoa tìm mùa xuân suốt đời chẳng gặp
Anh suốt đời chẳng gặp sắc tầm xuân
Em hồn nhiên em chẳng biết anh buồn
Em cứ kể về loài hoa bé nhỏ
Những chùm hoa nở bừng trong gió
Những chùm hoa ngày cũ chết lâu rồi. - (Hoa Tầm Xuân- Lưu Quang Vũ)
Anh suốt đời chẳng gặp sắc tầm xuân
Em hồn nhiên em chẳng biết anh buồn
Em cứ kể về loài hoa bé nhỏ
Những chùm hoa nở bừng trong gió
Những chùm hoa ngày cũ chết lâu rồi. - (Hoa Tầm Xuân- Lưu Quang Vũ)
Tầm xuân hoa nở bên rào
Mưa phơn phớt ngõ, gió xao xuyến chiều
Ngày đang khuất, mắt trông theo
Cánh chim bé tẻo tèo teo cuối trời - (Hoa Tầm Xuân-Bế Kiến Quốc)
Mưa phơn phớt ngõ, gió xao xuyến chiều
Ngày đang khuất, mắt trông theo
Cánh chim bé tẻo tèo teo cuối trời - (Hoa Tầm Xuân-Bế Kiến Quốc)
Ngày xuân tha thẩn trên đường
Hoa ai một nhánh bên vườn chào ta
Đến gần nhìn rõ – thì ra
Tìm xuân lại gặp hoa là tầm xuân. - (Tìm Xuân, Tầm Xuân – Tế Hanh)
Hoa ai một nhánh bên vườn chào ta
Đến gần nhìn rõ – thì ra
Tìm xuân lại gặp hoa là tầm xuân. - (Tìm Xuân, Tầm Xuân – Tế Hanh)
tầm xuân thì đấy xuân rồi
câu ca một thời hát lại
tầm xuân mình tôi ngậm ngải
trầm hương bay ở đâu rồi - (Tầm Xuân – Nguyễn Tấn Sĩ)
câu ca một thời hát lại
tầm xuân mình tôi ngậm ngải
trầm hương bay ở đâu rồi - (Tầm Xuân – Nguyễn Tấn Sĩ)
Người về tìm nụ tầm xuân
Thương màu hoa bưởi trắng ngần chợt tan
Mây buồn từ dạo lang thang
Vườn cà thuở ấy cũng hoang phế sầu. - (Nụ Tầm Xuân – Thanh Trắc nguyễn Văn)
Thương màu hoa bưởi trắng ngần chợt tan
Mây buồn từ dạo lang thang
Vườn cà thuở ấy cũng hoang phế sầu. - (Nụ Tầm Xuân – Thanh Trắc nguyễn Văn)
Bài ca dao Nụ Tầm Xuân chỉ với mười câu thơ ngắn ngủi để tả một mối duyên lỡ làng của một đôi trai gái yêu nhau nhưng không đến với nhau được vì một hoàn cảnh nào đó nhưng đã hộ đủ nhiều yếu tố đi vào lòng người như nhạc thơ khi êm đềm, lúc lại bổng trầm nghẹn ngào, nức nở, hình ảnh giản dị trong sáng nhưng vô cùng hàm súc, gợi cảm; tình ý vừa thơ mộng thắm thiết lại vừa ngậm ngùi… đã khiến nó dễ thấm sâu vào lòng người là vì thế.
Nguyễn An Bình
