User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 
Đọc tập thơ “Đường bay của gió”- tác giả Trần Thị Cổ Tích, NXB Love xuất bản Tháng 11, 2025
 
Duong bay cua gio 1 540x400
Bìa tập thơ Đường Bay Của Gió
 
Trần Thị Cổ Tích tên thật là Trần Thị Trầm, sinh năm 1955 tại Quảng Ngãi, quê gốc ở Huế nguyên là giáo viên tiếng Anh, chị bắt đầu xuất hiện và được biết đến trên một số Tạp chí và các Trang mạng Văn chương trong và ngoài nước từ năm 2006. Thơ chị cũng đã được chọn và in chung trong 12 tác phẩm uy tín, với nhiều tên tuổi nổi tiếng.
 
Năm 2019, Trần Thị Cổ Tích cho in tác phẩm đầu tay: “Trầm Khúc Mùa Thu,” NXB Hội Nhà Văn ấn hành, để lại nhiều dấu ấn yêu mến của độc giả yêu thơ.
 
“Đường Bay Của Gió” là tác phẩm thứ 2 của Trần Thị Cổ Tích, sách dày 178 trang gồm có 63 bài thơ (trong đó có 14 bài thơ được các dịch giả Việt Phạm, Võ Thị Như Mai, Quang Nguyễn chuyển ngữ sang tiếng Anh), ngoài ra còn có 3 truyện ngắn của Maureen Daly, O’Hennry và Richard Connell do chị chuyển dịch từ tiếng Anh ra tiếng Việt.
 
Tập thơ còn được thi sĩ Lê Mai Lĩnh viết “thay lời giới thiệu” và cảm nhận của nhà văn Nguyễn Đông A với nhiều tình cảm đáng trân quý.
 
Một chút “cường điệu” song hóm hỉnh và tinh tế, thi sĩ Lê Mai Lĩnh đã nhận xét: “ TTCT, người làm thơ từ hồi còn trong bụng mẹ...” (Bài Tập Làm Văn, thay lời giới thiệu, trang 6). Theo thi sĩ, thơ Trần Thị Cổ Tích còn “hay hung, tài hoa hung”… như một sự khẳng định tiếng thơ của chị: Tự nhiên như hơi thở, bắt nguồn từ cuộc sống và từ trong “máu thịt” của chị.
 
Với nhà văn, nhà phê bình Nguyễn Đông A thì: “Thơ TTCT tiêu biểu cho bút pháp Biểu tượng học: Mỗi vật thể đều mang linh hồn, mỗi hình ảnh đều mang một hàm nghĩa triết lý về đời sống và tình yêu…” (Đọc Thơ TTCT, trang 162). Và nhà văn đã kết luận: “Tựu trung bút pháp của TTCT là bút pháp của lửa và tro, của thân thể và linh hồn, của nhạc và im lặng. Thơ cô vừa phóng khoáng, vừa thấm đẫm tinh thần hiện sinh và tượng trưng phương Tây, tạo nên một giọng điệu vừa dân dã, vừa bác học, vừa mềm mại, vừa sắc lẻm. Đó là giọng nói của người đàn bà đã đi qua đam mê mà vẫn còn biết ru, đã đi qua tro tàn mà vẫn giữ được hơi ấm của lửa…” (trang 172)
 
Với một cây viết thơ- Người làm thơ như vậy là quá đủ để vững vàng tiến bước trong cõi Văn chương đầy sáng tạo và thách thức rồi!
 
Song với thiển ý của người viết. Thơ TTCT, ngòi bút pháp của “lửa và tro”, thơ CT còn có một khoảng lặng- Một gam trầm như cái tên của chị- gieo vào lòng người đọc một cảm giác vừa an yên lại vừa… bất ổn. Như cái cách của ngọn núi lửa cứ âm ĩ giữa ngún tắt rồi đột ngột bung lên như những ngọn pháo hoa, hư ảo nhưng lại hiện thực…
 
Phải chăng đó là “Tiếng Thơ Của Trầm”, khi chị viết: “em đi đây/ anh yêu/ khu vườn ngày xưa xơ xác/ hoa sứ rụng héo những lối mòn/ hương chìm vào đất”, có vẽ như là cam chịu, khi thân phận là “hương chìm vào đất”, và hình ảnh hay câu nói nhắn gửi “em đi đây” được lặp lại ở khổ thơ thứ 2: “em đi đây/ anh yêu/ cái giếng bên hồ sen giờ đã cạn khô/ dây gàu mục rã/ nằm đau bên miệng giếng/ biết nối vào đâu”, song hình ảnh “giếng cạn khô, dây gàu mục rã, nằm đâu bên miệng giếng” như một gam trầm buồn. Một chấp nhận chia xa với những hình ảnh thơ rưng rức, nối tiếp: “anh vẫn còn ngủ rất say” và tự hỏi với ngấm ngầm “nguyền rủa”: “anh là thần tượng hay tử thi”… để rồi nhắc nhở khẽ khàng: “đêm đến rồi/ bước chân em có làm anh sực tỉnh/ đừng hỏi em/ suối trăng tràn ướt con đường có làm em trượt ngã/ chim gãy cánh rồi liệu còn sức để bay” cuối cùng là vụt lên qua hình ảnh: “anh yêu/ em sẽ bay/ đường bay của gió.” (Đường Bay Của Gió, trang 14, 15). Một cái kết nhẹ nhàng, nhưng công phá, và bài thơ cũng là chủ đề cùng tựa đề của tập thơ, để người đọc chiêm nghiệm.
 
Bài thơ “Dăm phút cho nhau” ở trang 19, cũng là những dặn dò rất nhỏ nhặt, đời thường như: “nhớ dành dăm phút cho nhau/ khi mỗi sáng...”. Đó là sự chắt chiu, trìu mến, ân cần: “khói cà phê, mùi bánh nướng, từng nốt nhạc...” và cũng lặp lại: “nhớ dành dăm phút cho nhau/ khi hoa trong vườn hé nụ,” rồi thì mơ thành “ngôi sao hy vọng- trên chiếc đũa thần/ nơi ấy có người/ theo từng cánh sao/ cưỡi sóng qua biển lớn” bởi vì: “dành dăm phút cho nhau/mỗi ngày/ ta nhặt về/ những linh đơn”. Phải chăng là “linh đơn” của tình yêu và kể cả của thơ…
 
Duong bay cua gio 2 410x420
Tác giả Trần Thị Cổ Tích
 
Với bài thơ “Con Bống Trời Viễn Xứ” trang 28, Cổ Tích viết: “em tặng chị cà phê Ban Mê/ nào đâu chỉ cà phê Ban Mê/ mùi hương huyền thoại mười năm trước/ lững thững mù sương cũng theo về”, cái “mùi hương huyền thoại”, cái “mù sương” của xứ sở “buồn muôn thuở, bụi mù trời” mà người viết đã từng có 10 năm trú ngụ, vẫn không sao ngăn được “cái nhớ” âm trầm của quê hương bản quán, thông qua hình ảnh và sự trăn trở: “em về thèm lắm don Cổ Lũy/ cá hố kho ngọt nước sông Trà/ bao năm con bống trời viễn xứ/ búng mãi về quê nỗi nhớ nhà”. Thêm một nốt “trầm” để bùng lên sóng nhớ: “em về đánh thức hồn tri kỷ/ chuyện cũ chuyện nay chất chất đầy/ mấy ai hiểu được ngày xưa ấy/ có những thân tình như men say”
 
Với Huế cội nguồn và Quảng Ngãi nơi sinh, TTCT đã có 2 bài thơ liền nhau ở 2 trang 70, 71, với tình cảm đằm sâu, nhiều suy tưởng: “bước rón rén kẻo giật mình trưa Huế/ tôi trở về tìm trong-vắt-nụ-thời-gian/ Hoàng thành xưa xốn xang màu rêu nhớ/ sông Hương ngừng trôi sững một câu hò”. Và cái “gam trầm” trong thơ CT lại tiếp tục qua từng câu thơ tiếp, theo hành động của con tim: “tôi vén từng con sóng, em bỏ Huế đi đâu” với “những bâng khuâng ray rứt tím trên đầu” cuối cùng vẫn là: “siết tay Huế/ siết tay những ngọt ngào rất Huế/ phút yên bình/ tôi cười khóc với… tôi xưa...”. Tôi đặc biệt rất thích câu thơ: “bước rón rén kẻo giật mình trưa Huế/ tôi trở về tìm trong-vắt…” lại có chút ngờ ngợ, cách diễn đạt cụm từ “trong-vắt-nụ-thời-gian” dường như là mơ hồ và… nhàn nhạt hình ảnh? Tương tự, câu “sông Hương ngừng trôi sững một câu hò”, nếu thêm một dấu chấm, hoặc một dấu phẩy ở sau chữ “ngừng trôi”, cái hình ảnh ‘sửng một câu hò” sẽ tăng thêm phần ấn tượng? Rồi tôi xem lại những bài thơ trong tập, nhận ra một điều là TTCT không hề viết hoa “đầu câu, trừ tên riêng, không sử dụng dấu chấm, phẩy, hay chấm than trong bất kỳ câu thơ nào” (tôi nhấn mạnh), song câu thơ “tôi cười khóc với… tôi xưa…) lại là ngoại lệ? Hay đây chỉ là thủ pháp mà nữ thi sĩ muốn diễn đạt?
 
Trở lại với “Ngày Tôi Về Quảng Ngãi Có Vui Không?” Vẫn những xúc cảm đằm thắm: “tôi đã về/ Quảng Ngãi có vui không/nắng sân ga run run màu hạnh ngộ/ sợi tóc mềm ngân nga lời ca nhỏ/ vỗ về tôi bao con sóng dịu dàng”, và vẫn những câu hỏi thì thầm, thật trầm nhưng reo vui: “ngày tôi về Quảng Ngãi có vui không,”, vẫn nhắc lại, nhưng ý tình chuyển dạt: “đón tôi về Quảng Ngãi có vui không/ khuya biển thức kể cuộc đời giông bão/ mắt người sâu mà nỗi sầu chưa cạn/ lời riêng chung chén rượu cháy môi cười”. Và thêm lần gam trầm bỗng chan hòa, ý vị bởi tình quê: “buồn hay vui cũng xin cùng ngồi lại/ quá nửa dốc đời mấy nẻo phù vân/ tôi trở về ấm tình quê tình bạn/ gọi bao lần/ Quảng Ngãi dấu yêu ơi.”
 
Cuối cùng, có vẽ như, TTCT ít làm thơ tình? Hay trong tập chỉ chọn vài ba bài tiêu biểu như “Gửi “Oan Gia,”’ “Ru Người Yêu Dấu,” “Lời Nguyện,” “Khi Ta Hôn Nhau” còn lại để dành cho tập khác? Song thơ tình của TTCT lại có cái nồng nàn riêng rất là… trầm và cũng rất là… cổ tích, như gọi người yêu là “oan gia.” Oan gia để mà mè nheo, nhõng nhẽo: “tôi bắt đền anh, bắt đền anh/ (a, đây lại sử dụng dấu phẩy?)/ khi không đem lá thả dòng xanh/ hồ thu gợn sóng lao xao mãi/ để gió than hoài khúc mong manh.” Và rồi hàng loạt câu hỏi (nhưng không chấm hỏi): “phải chăng kiếp trước tôi lỡ tay, có phải xưa anh là nhánh rong,” để nhà thơ tự dặn mình: “lòng dặn lòng khoác áo cà sa/ chuông mõ lên non lánh ta bà/ phất tay dũ hết lòng oan trái/ ai hay giữa đường gặp “oan gia.” Nhưng vẫn… “ứ a, với tình”: “anh hỡi, anh à, anh… ấy ơi (lại phá lệ rồi)/tim tôi không chịu lặng nữa rồi/ mỗi ngày nó khắc thêm chữ nhớ/ anh lấy chi đền cho tôi đây” (trang 44).
 
Cũng như bao người yêu nhau, “Ru Người Yêu Dấu” là sự thể hiện chân tình và cả sự âu yếm: “có thể nào ta từ bỏ đời nhau,” “có thể nào ta quên nhau,” “có thể nào em xa anh,” cho dù: “người đàn ông tếu táo/ người đàn ông dữ dội/ người đàn ông đa tình/ người đàn ông khổ nạn/ khóc cả nhân gian trong một cái nhíu mày.” Để khi tình yêu thăng hoa: “thả sợi tóc mềm vào chữ Merry/ em gửi anh nụ hôn Christmas,” “choàng cánh tay vững chãi vào chữ Happy/anh sưởi ấm em nụ cười New Year rạng rỡ” (Lời Nguyện, trang 110). Và bốc cháy: “em kiễng chân lên/ háo hức đón từ anh/nụ hôn thuốc lá/lửa trời hừng hực/ em ngùn dần ngún dần”… cùng đam mê: “khi anh hôn em/ nụ hôn rượu chát/ hương xuân tràn lên ngực/ nồng nàn bứt rứt” có cả mụ mị, hiến dâng: “ khi ta hôn nhau/ nụ hôn thuốc phiện/anh dật dờ trong cơn nghiện/ quằn quại,” cuối cùng là: “khi ta hôn nhau/ nụ hôn từ tạ/ đất hỏi trời…/ mây hỏi gió…/ người hỏi người…/ ta hỏi mình…” (dấu ba chấm… là người viết thêm vào, tất nhiên lượt bớt những hình ảnh của tác giả) để bạn đọc và người yêu thơ “tưởng tượng, thêm vào” cùng đồng cảm, hòa vào gam Trầm với nữ thi sĩ. Nên chăng?…
 
(Katy,TX chiều January, 17/26)
Trần Hoàng Vy
Nguồn: https://saigonnhonews.com/van-hoa-van-nghe/duong-bay-cua-gio-tieng-tho-cua-tram/