Star InactiveStar InactiveStar InactiveStar InactiveStar Inactive
 
nguyenbacsonphm
 
I. Lời Mở Đầu
 
Năm 2024, tôi hợp tác với Hoàng Nhơn, giám đốc nhà sách Khai Tâm, và họa sĩ Dũng Trung Kqd, làm cuốn sách Hương Bay Ngược Gió. Nội dung là hơn ba mươi video, phỏng vấn sư Minh Tuệ, được tôi chuyển từ thoại nghe sang thoại văn bản, cùng nhiều tư liệu khác. Hoàng Nhơn lo phần xin giấy phép, phát hành, và hàng trăm việc linh tinh không thể kể hết tên. Anh Trung Dũng lo phần thiết kế, bìa, ảnh minh họa cho sách.
 
Đó là những ngày, có thể nói là vui nhứt trong nghiệp viết của tôi. Đêm nào, ba anh em, cũng châu đầu vào nhau trong messenger, hối thúc nhau, động viên nhau, và cùng mơ về một ngày mai của cuốn sách, cuốn sách đầu tiên và duy nhứt, cho đến thời điểm hiện nay, tháng 04.2025, viết về, nói về, giới thiệu về sư Minh Tuệ, tán thán hạnh tu cũng như là đức độ của sư Minh Tuệ.
 
Sóng gió ập đến, cục phát hành cho phép, nhưng ban tôn giáo lại không cho, khiến ba anh em, không chỉ hụt hẫng, mà còn là rơi vào trạng thái thất vọng tràn trề, bi đát tràn trề, khó gì vực dậy. Bao tâm huyết gieo vào, xem như đổ sông đổ biển. Buồn nhứt, là cuốn sách đầu tiên viết về sư Minh Tuệ, đã không thể đến được với độc giả khắp nơi, những người vô cùng yêu mến và kính trọng sư Minh Tuệ.
 
Khi cục phát hành cho phép in đợt một năm ngàn cuốn, Hoàng Nhơn bèn vội vã cho in liền vài trăm cuốn để biếu các thân hữu của ba anh em. Khi ban tôn giáo không đồng ý cho phát hành, mấy trăm cuốn in ra ấy, Hoàng Nhơn vẫn biếu tặng những người thân quen, trong đó có tôi, cũng được vài mươi cuốn.
 
Anh Trung Dũng thì khác, anh phản đối. Cho đàng hoàng thì làm. Không cho thì thôi. Đâu ra đó. Không lèm nhèm. Không khuất tất. Làm ra làm. Và tuân thủ luật lệ rất mực.
 
Thế là cũng có một chút căng thẳng giữa ba anh em, cộng với nỗi buồn sách không được phát hành, cửa sổ messenger trò chuyện của nhóm, cũng tắt ngúm ánh đèn từ đó.
 
Nhơn thì quay về lo chuyện sách của Nhơn. Anh Dũng cũng quay về lo việc của ảnh. Tôi cũng vậy, tiếp tục chuyển thoại sư Minh Tuệ. Thời gian này, từ lúc đặt chân sang Tích Lan, gần như sư Minh Tuệ không nói gì nữa cả. Tất cả như rơi vào một không gian khép. Và buồn.
 
Mấy hôm trước, anh Trung Dũng hỏi tôi địa chỉ, rồi nói, anh muốn tặng em cuốn sách về nhà thơ Nguyễn Bắc Sơn. Cuốn này, cũng do anh làm bìa và trình bày sách. Tôi dạ, và hai ngày sau, cuốn sách đến tay tôi.
 
Cũng cuốn này, hơn một năm trước, con trai duy nhứt của ông Nguyễn Bắc Sơn, em Nguyễn Thái Bình, đã tặng tôi một cuốn, do nhà xuất bản hội nhà văn phát hành.
 
Cuốn sách của anh Trung Dũng tặng tôi, thì chẳng có hội hè nào cả. Tôi chưa hỏi anh, nhưng có lẽ do anh tự bỏ tiền túi ra in. Nội dung hai cuốn thì y hệt nhau nhưng cách trình bày, phải nói một cách chân thật rằng, cuốn của anh Trung Dũng tặng tôi, đẹp hơn hẳn.
 
Đẹp, và gây shock.
 
Nói gây shock là bởi vì, hai bìa đều vẽ những ngón tay gầy gò chụm lại, và một làn khói trắng mỏng bay lên, nhưng sách của anh Trung Dũng tặng tôi, thì nơi đầu những ngón tay chụm ấy - có một viên đạn đồng!
 
******
II. Phần Viết Thêm - Mật Khu Lê Hồng Phong
 
Tháng 01.2024, khi nhận được cuốn sách Nguyễn Bắc Sơn, Tác Phẩm Và Dư Luận, tôi đã từng viết một bài giới thiệu sách, mang nhan đề: Nguyễn Bắc Sơn, Mai Sau Dù Có Bao Giờ. Bài giới thiệu này, tôi sẽ dẫn lại toàn bộ ở mục III. Còn dưới đây là phần viết thêm của tôi, hôm nay, 16.04.2025
 
**
Bạn hãy cùng tôi đọc khổ thơ này trong bài thơ Mật Khu Lê Hồng Phong
 
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui
 
Rồi thử ngẫm nghĩ xem, bốn câu thơ này, nói lên điều gì của thực tế cuộc sống, thực tế của đời lính miền Nam trước 1975, cũng như nói lên tính cách gì của nhà thơ lính Nguyễn Bắc Sơn?
 
Nếu như đối với nhà thơ Anh Ngọc, bốn câu thơ vừa dẫn ra ở trên, gợi lên cho ông sự tò mò, vì ông là người sinh ra và lớn lên ở miền Bắc, thì đối với bác sĩ, nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc, bốn câu thơ này lại mang đến cho ông một cảm giác chua xót, đắng cay. Nỗi chua xót, đắng cay dằng dặc cho cả một thế hệ dưới màu áo của thời binh lửa. Nỗi đau như lịm hẳn vào trong: mai ta đụng trận ta còn sống… .
 
Tôi thì khác chút. Tôi thấy Nguyễn Bắc Sơn là một người lính trẻ vui vẻ, và tếu táo khi viết bốn câu trên. Chỉ bốn câu thôi, mà bao hàm trong đó đủ cả buồn vui, và quan điểm, thái độ với những đột ngột, bất đắc thê lương, vô thường của cuộc đời - chuyện sống chết giữa làn tên, mũi đạn. Nào là đại từ “ta”, thể hiện đúng chất oai phong, ngổ ngáo, ngang tàng của một người lính trẻ. Nào là sự tự thú rất đàng hoàng, đĩnh đạc về mình: tôi phá phách đấy, nhưng sòng phẳng, chơi đẹp, sẵn sàng đốt tiền, sẵn sàng hào phóng với các nàng gái điếm, khi các nàng ấy đã cùng chúng tôi - những chàng lính trẻ - một cách vội vã, chia sớt nỗi sầu của người trai trong thời loạn, nỗi sầu của người trai bỏ áo thư sinh, khoác lên người màu áo trận phai, thân xác từ đây kể bỏ, bởi bom đạn ngoài chiến trường, chúng nào có mắt.
 
Khác cả Anh Ngọc, Đỗ Hồng Ngọc, và khác cả tôi, nhà phê bình văn học Đặng Tiến, lại đọc bốn câu trên bằng con mắt khác. Ông đánh giá: Đây là một đoạn thơ, mà Nguyễn Bắc Sơn đã từng làm xao xuyến dư luận khi xuất hiện trên các trang báo Sài Gòn khoảng 1970, như trên tuần báo Khởi Hành của hội văn nghệ sĩ quân đội Việt Nam Cộng Hòa. Nhiều người đọc, nhất là giới thanh niên, ngạc nhiên và sảng khoái trước những lời thơ ngang tàng, bi tráng, ý thơ u uất, kiêu bạc, bất cần đời. Câu thơ phơi trải tâm trạng một lớp thanh niên miền Nam, vào thời điểm quyết định của chiến tranh - và từ đó - làm chứng từ cho một khía cạnh của cuộc chiến kéo dài non hai mươi năm.
 
Trong các nhà phê bình văn học tài năng ở hải ngoại như Võ Phiến, Thụy Khuê, Nguyễn Mạnh Trinh, Nguyễn Lệ Uyên, Nguyễn Vy Khanh… , thú thiệt, với tôi, thích đọc nhứt vẫn là Đặng Tiến. Thích là vì, lối viết phê bình của ông vừa bác học vừa bình dân, kẻ nhiều chữ lẫn không nhiều chữ, đọc ông, vẫn có thể ít nhiều hiểu được gần như hết nội dung bài viết. Thêm vào đó, sự dí dỏm, cùng nhiều câu chuyện hậu cung, hậu kỳ, phía sau tấm màn nhung của ông về giới văn nghệ, về hoàn cảnh lịch sử, hoàn cảnh ra đời của tác phẩm, cũng đem đến cho người đọc những thỏa mãn, thích thú. Đây là một lợi thế, mà không phải nhà lý luận phê bình nào cũng may mắn sở hữu được.
 
Viết tới đây, tôi lại phải thêm vào một ý này nữa, mà tôi vừa nghĩ ra: Cái vẻ bặm trợn, bạt mạng, bất cần đời, coi sống chết chỉ là chuyện vặt, ở các thi sĩ miền Nam, thì nhiều lắm, không cứ gì mỗi Nguyễn Bắc Sơn. Đọc thơ của Cao Thoại Châu, rồi Sơn Núi, tức Nguyễn Đức Sơn, của Bùi Giáng… , thì rõ ngay thôi mà.
 
Để kết thúc phần viết thêm này của tôi, nhân dịp nhận được sách tặng từ anh Trung Dũng KQĐ, tôi xin giới thiệu đến các bạn, một áng văn phê bình, có thể nói là tuyệt tác, văn mà đọc lên, còn hay hơn cả thơ của nhiều thi sĩ. Đọc đến đâu, bừng bừng đến đó, cái bừng bừng của chữ nghĩa tuôn trào như sông như biển. Đọc tới đâu, sướng tới đó, sướng như thời sau 75, toàn dân bị ghẻ chóc, gãi đến bật máu ra, vừa đã vừa đau. Đau muốn khóc.
 
Áng văn bất hủ này, của nhà phê bình văn học Nguyễn Mạnh Trinh.
 
“Tôi đọc bài thơ Mật Khu Lê Hồng Phong, lần đầu trên tạp chí Khởi Hành, vào khoảng năm 1969, khi đang ở quân trường Nha Trang. Những câu thơ làm tôi nhảy dựng khỏi giường trong cái cảm khái bừng bừng của một phút giây liên tưởng mà cho đến bây giờ, tôi vẫn mường tượng được. Thơ như không phải của một ai khác mà như từ cõi thiên thu lồng lộng vọng về. Thơ có máu xương tủy cốt thực, có linh hồn thực theo từng ngôn ngữ chở chuyên. Bài thơ, không có nỗi bi ai của phụ nữ thường tình. Mà, có hào sảng của một người lính đã quen tử sinh gần cận. Thơ dù chưa phải là tiếng thét xuất quân nhưng cũng là cảm tưởng của người coi khinh sống chết.
 
Tôi nghĩ, đây là một bài thơ tuyệt mỹ. Có phong vị của bài hành nhưng cũng có nét lãng mạn của một thời kiếm hiệp cổ xưa, của hình dáng những hiệp khách thời nay. Một điều nữa, trong cái thăm thẳm buồn của thi ca, có cái hoành tráng của bước chân lịch sử. Chiến tranh, là bức tranh của nỗi niềm muôn thuở, giống hệt nhau. Có người đã viết, những câu thơ ấy, chẳng phải của Nguyễn Bắc Sơn, mà chàng thi sĩ, chỉ là thư ký, ghi chép lại những tâm tư đồng vọng từ trời đất. Dường như, đó là tặng phẩm của trời, dành riêng và ban tặng. Nếu những chàng lính trận mà nghe, đọc, những câu thơ này, thì làm sao mà tránh được chuyện vỗ vế cả cười. Tâm trạng ấy, chắc hẳn là mẫu số chung của rất, rất nhiều người. Kệ mẹ đời, hãy biết ngày hôm nay. Ngày mai ra trận, chắc gì còn sống:
 
Mai ta đụng trận ta còn sống
Về ghé sông Mao phá phách chơi
Chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm
Đốt tiền mua vội một ngày vui".
 
******
III. Nguyễn Bắc Sơn, Mai Sau Dù Có bao Giờ (Bài đã xuất bản ngày 16.01.2024)
 
**
1. Nguyễn Bắc Sơn
 
Sinh năm một ngàn chín trăm bốn mươi bốn và mất năm hai ngàn không trăm mười lăm, Nguyễn Bắc Sơn, tên thật là Nguyễn Văn Hải, một người lính, quê quán tại Phan Thiết, đã gây sửng sốt cho thi đàn Việt Nam, khi cho ra đời tập thơ Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi, năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai, lúc ông mới vừa hai mươi tám tuổi.
 
Chấn động.
 
Vang dội.
 
Giữa hoàn cảnh chiến tranh, đang mỗi ngày mỗi thêm tàn khốc, bi thảm.
 
Nhà văn Võ Phiến rất thích thơ của Nguyễn Bắc Sơn, Ông cho rằng, thơ Bắc Sơn hay.
 
Lý giải về điều này, Đặng Tiến nói - đời không có nghĩa phải quấy (quấy, có nghĩa là sai) là tư tưởng của Võ Phiến. Nên, Võ Phiến khen thơ Nguyễn Bắc Sơn hay, là do, tư tưởng hai bên gặp nhau.
 
Đúng với Võ Phiến, là cũng sẽ đúng với nhiều người, Đặng Tiến nói vậy. Nghĩa là, không có gì khó hiểu khi thơ Nguyễn Bắc Sơn nhận được nhiều sự chia sẻ và đồng cảm từ bạn đọc.
 
**
2. Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi
 
Độc đáo và đặc biệt, ly kỳ và hay, là lời khen của giới phê bình dành cho tập thơ và bài thơ cùng tên của Nguyễn Bắc Sơn, Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi.
 
Nếu trong Tây Tiến của Quang Dũng có những câu thơ hào hùng, bi tráng, khiến người đọc rưng rưng xúc động, mãi vẫn không quên: anh bạn dãi dầu không bước nữa / gục lên súng mũ bỏ quên đời / chiều chiều oai linh thác gầm thét / đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người, thì trong Chiến Tranh Việt Nam Và Tôi của Nguyễn Bắc Sơn, ta cũng gặp những câu mang khẩu khí như thế.
 
Lòng suối cạn phơi một bầy đá cuội
Rừng giáp rừng gió thổi cỏ lông măng
Đoàn quân anh đi những bóng cọp vằn
Gân mắt đỏ lạnh như tiền sắc mặt
 
Và tương tự, nếu sự lãng mạn của Quang Dũng thể hiện ở chỗ: Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc / quân xanh màu lá dữ oai hùm / mắt trừng gửi mộng qua biên giới / đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm, thì cuộc chiến tranh giữa hai miền nam bắc, cũng được Nguyễn Bắc Sơn nhìn bằng đôi mắt đùa vui, tếu táo.
 
Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất
Dừng chân nơi đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy tựa gốc cây hãy ngắm mây trời
Hãy tưởng tượng mình đang đi picnic
 
Giặc là ai? Giặc là các ngài du kích phía bên kia, đang rình rập, bắn tỉa. Họ cũng máu, cũng xương, cũng thịt. Phe nào thì cũng là con người thôi, như nhau thôi.
 
Nhìn sát hơn một chút nữa, thì giống trò chơi bọn con trai thuở bé, chia hai phe bắn nhau. Nếu có khác, là khác ở chỗ, những cậu bé ngày xưa, bây giờ, đều đã phổng phao, trưởng thành, cầm súng thật, người chết cũng là người chết thật.
 
Và lời đề nghị, vui vẻ, chân thành, được thốt lên - gọi phía bên kia, kẻ thù ta ơi. Cái tiếng ơi ấy mà, thân thiện, như bạn bè, thân thiện, như anh chị em cùng cha mẹ sinh ra. Bạn bè, nếu không lâu dài được, thì tạm trong chốc lát, tạm đình chiến, tạm ngưng nhiệm vụ - bắn nheo.
 
Nheo - nhau, vừa là phát âm của miền Trung phía Nam, vừa là tỏ bày sự thân thiết, gần gũi, như cùng quê hương, như cùng xứ sở.
 
Kẻ thù ta ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo
Hãy tránh xa ra ta xin tí điều
Lúc này đây ta không thèm đánh giặc
 
Trong phút nghỉ ngơi, thì xàm, thì tám chút. Xàm, tám, nghĩa là nói nhảm, nói điên nói khùng, nói thiên nói địa, nói trên trời nói dưới đất, cốt để khuây khỏa, cốt để vơi nỗi mệt nhọc và không phương hại đến ai.
 
Thèm uống chai bia thèm châm điếu thuốc
Thèm ngọt ngào giọng hát em chim xanh
Kẻ thù ta ơi những đứa xâm mình
Ăn muối đá mà điên say chiến đấu
 
Hai bên chia phe đánh nhau, bên nào cũng chung giọng nói, bên nào cũng chung bầu trời, bên nào máu cũng đỏ, da cũng vàng, và khi được hỏi, đất nước bạn tên chi, thì cũng chỉ một câu trả lời - Việt Nam.
 
Bên thì ăn muối đá. Bên thì xách theo rượu lúc hành quân. Chẳng nghiêm chỉnh gì cả, đó mới chính là giọng điệu của Nguyễn Bắc Sơn, cà rỡn, tếu táo, vui nhộn. Tếu đến mức, nói quá lên, nói thách lên, để khỏi trả giá luôn.
 
Nghĩa là gì? Nghĩa là trong mắt Nguyễn Bắc Sơn, cuộc chiến mà ông đang tham gia, nó chẳng có một chút xíu nào, là nghiêm trang, là kính cẩn, khi ông nói thực lòng mình. Đi lính là chuyện phải đi. Trai thời chiến mà. Nó là tai nạn từ trời. Nó là cái ách từ nước. Tự nhiên tròng vào, tự nhiên máng vào, chớ có ai ham đâu.
 
Ta vốn hiền khô ta là lính cậu
Đi hành quân rượu đế cũng mang theo
Mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
Xem cuộc chiến như tai trời ách nước
 
Cho nên cái việc mà lỡ như phải bắn trúng nhau, Nguyễn Bắc Sơn cũng chép miệng, phần số cả thôi, nào ai muốn. Có suy nghĩ thêm, có bận lòng thêm, thì cũng không giải quyết được gì, khi định mệnh xã tắc, khi định mệnh nước non, đã được đặt để rồi, như thế.
 
Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi
Chiến tranh này cũng chỉ một trò chơi
Suy nghĩ làm chi cho lao tâm khổ trí
 
Ai lại chẳng muốn ở gần vợ đẹp con khôn. Ai lại chẳng muốn kề bên cha mẹ già, báo hiếu. Vui gì chốn rừng thiêng nước độc. Sung sướng gì trước hòn đạn, mũi tên. Vinh dự gì khi bắn trúng anh em. Thích khoái gì nơi màn trời chiếu đất.
 
Lũ chúng ta sống một đời vô vị
Nên chọn rừng sâu núi cả đánh nhau
Mượn trời đất làm nơi đốt hỏa châu
Những cột khói giả rồng thiêng uốn khúc
 
Nhất là những buổi xuân về. Thay cho pháo Tết là tiếng bom rơi. Thay cho phân xanh bón cành mai là bầy nhầy xương máu. Buồn biết mấy cho vừa.
 
Mang bom đạn làm trò chơi pháo Tết
Và máu xương làm phân bón rừng hoang.
 
Nói tới Tết, tôi mới nhớ. Loay hoay, chỉ còn chừng đôi tuần nữa. Bao nhiêu năm rồi nhỉ, Sài Gòn chẳng tiếng pháo vui, chỉ thấy màu cờ đỏ, đỏ đến rưng rức mắt. Và đóa mai vàng, vì thế, không thắm, nó trơ ra, mất vẻ thẹn thùng trong nắng sớm mơi, cái nắng mà mỗi khi xuân về, chỉ ở Sài Gòn, mới là đẹp nhứt.
 
**
3. Một Ngày Nhàn Rỗi
 
Các nhà thơ xưa của miền Nam trước một ngàn chín trăm bảy mươi lăm, ông nào cũng đa tài, Nguyễn Bắc Sơn cũng vậy. Ông giỏi tiếng Anh, nên có một thời gian, ông làm phiên dịch. Rồi ông giỏi cả thuốc men đông y, châm cứu, nên ông cũng thường đi cứu chữa bệnh cho bà con xóm giềng. Rồi thì nghiên cứu kinh dịch nữa.
 
Nguyễn Bắc Sơn giỏi nhiều món lắm.
 
Nhưng vẫn nghèo.
 
Bạn cùng tôi đọc nhé, bài thơ, Một Ngày Nhàn Rỗi, để thấy cái nghèo của ông - nghèo mạt rệp mà rất ư là anh hùng hảo hớn.
 
Buổi sáng mang tiền đi hớt tóc
Vô tình ngang một quán cà phê
Giang hồ hảo hán dăm thằng bạn
Mải mê tán dóc chẳng cho về
 
Đọc đến đây, không dưng tôi lại nhớ đến bài thơ Mời Em Uống Rượu của Cao Thoại Châu. Cao Thoại Châu cũng là một nhà thơ “dữ” của phương Nam. Ông là bạn rất thân của nhà thơ Kim Tuấn mà tôi đã từng giới thiệu. Bài thơ Mời Em Uống Rượu cũng có cái giọng như Nguyễn Bắc Sơn lúc này: có mắt ta là ly rượu nhỏ / có đời ta là quán cô hồn / và có ta đang ngồi trong quán / uống cho tàn cho mạt kiếp nhân sinh.
 
Bên dăm ba thằng bạn cùng chén rượu khan, Nguyễn Bắc Sơn nhìn trời rộng đất dài, bỗng buột hỏi lòng mình, vậy chớ, ta đang ở đâu đây. Ở đâu ư? Mình đang ở đâu ư? Ở đâu thì cũng là đâu đó, cũng đìu hiu, cũng quạnh quẽ, như nhau.
 
Về đâu, đâu cũng là đâu đó
Đâu cũng đìu hiu đất Hán Hồ
Hớt tóc cạo râu là chuyện nhỏ
Ba nghìn thế giới cũng chưa to
 
Ở đâu thì trong lòng cũng nghe, gió mùa thu thổi buốt, thấu tận xương, dẫu đương là tháng giêng trẩy hội. Cái gió ấy, chỉ ai ở sa trường, hoặc biên giới xa xôi, thì may ra mới biết. Gió của Nhạn Môn quan mà, nơi ấy có rất nhiều chim nhạn, cũng là nơi mà nàng Chiêu Quân phải giã xứ sang cống Hồ.
 
Gió ấy mà đến bên lòng, chạnh biết bao nhiêu mà kể.
 
Tháng Giêng ngồi quán, quán thu phong
Gió Nhạn Môn quan, thổi chạnh lòng
Chuyện cũ nghe đau hồn tứ xứ
Thương Kiều Phong, nhớ tiếc Kiều Phong
 
Miền Nam mà, thời ấy, ai không say mê tiểu thuyết kiếm hiệp kỳ tình của Kim Dung. Ai mà không biết Kiều Phong. Ai mà không thích Kiều Phong, một đại anh hùng xuất chúng trong Thiên Long Bát Bộ.
 
Bày ra một ván cờ thiên cổ
Thua trận nhà ngươi cứ trả tiền
Mẹ nó, tiền ta đi hớt tóc
Gặp ngày xúi quẩy thua như điên
 
Ngôn ngữ trong thơ của Nguyễn Bắc Sơn là ngôn ngữ của lề đường, quán xá. Chợ búa, chửi thề, vậy mà lại rất thơ.
 
Tóc ơi, ngươi cứ tha hồ mọc
Xanh tốt như mùa xuân thảo nguyên
Từ Hải nhờ râu nên mới quạo
Thua cờ tớ bỗng đẹp trai thêm
 
Lề đường, quán xá, bụi bặm và giang hồ, một kiểu giang hồ hành hiệp của bậc đại trượng phu: chọc trời khuấy nước mặc dầu / dọc ngang nào biết trên đầu có ai. Từ Hải ư? Nhằm nhò gì. Bỏ túi!
 
Cái bộ râu của Từ Hải, cùng lắm, là tô điểm thêm cho cái mặt quạu, quạu đeo của ổng. Chớ đẹp trai á hả, còn thua ta xa, lúc oánh thua cờ.
 
Là đẹp trai thua Nguyễn Bắc Sơn đó. Quạu, miền Trung phía Nam đọc trẹo ra thành quạo. Nghe quen rồi, thì chẳng thắc mắc chi.
 
Lạng quạng ra bờ sông ngó nước
Trên trời dưới đất gặp ông câu
Ta câu con đú, ngươi câu đẻn
Chung một tâm hồn tất gặp nhau
 
Các bạn biết con đú là con gì không? Nó là con rùa biển. Còn con đẻn, nó là rắn, cũng ở biển luôn. Mà tôi nghi cái ông Nguyễn Bắc Sơn này lắm, ổng có tánh hài hước, hổng chừng, con đú, có hai nghĩa, đú là rùa, mà đú còn là đú đởn, nghĩa là không đứng đắn, không đàng hoàng đó. Những tâm hồn không đứng đắn, không đàng hoàng, tất sẽ gặp nhau.
 
Khi gã Yêu Ly đâm Khánh Kỵ
Là đâm chảy máu trái tim mình
Sông Mường Mán không dung hào kiệt
Muôn đời bóng núi đứng chênh vênh
 
Thơ của Nguyễn Bắc Sơn, có cái ngộ, là khi lấy riêng từng khổ ra, mỗi khổ ấy, nó có thể thành một bài thơ, có ý nghĩa riêng biệt. Đang chuyện đi câu, bỗng nhảy qua chuyện về Yêu Ly, là một thích khách người nước Ngô thời Xuân Thu, chấp nhận dùng khổ nhục kế, chặt đứt cánh tay phải, giết cả vợ con để Khánh Kỵ tin dùng. Giáo của Yêu Ly đâm xuyên bụng Khánh Kỵ. Quân lính xông vào tính giết Yêu Ly, Khánh Kỵ can, người này là dũng sĩ.
 
Không thể trong một ngày, mà mất đến hai anh hùng của thiên hạ.
 
Tháng Giêng có kẻ đi tìm cúc
Nhưng cõi đời không có Cúc Hoa
Thấy đám phù bình trên mặt nước
Biết mình đi lộn nẻo bao la
 
Như vậy đó. Đang chuyện câu đú câu đẻn, thì quẹo qua thời Đông Chu Liệt Quốc ở bên Tàu. Đang ở Tàu thì quẹo dzìa Việt Nam, nhắc chuyện Cúc Hoa, nhưng rất duyên, và, như tôi đã nói ở trên - rất đỗi thơ.
 
Nguyễn Bắc Sơn có tài dụng chữ, nên thơ nghe như réo rắt tiếng đàn, nên thơ nghe như róc rách tiếng suối, reo lên, rộn rã, và cứ thế, chảy trong mênh mông, mênh mông: Tháng giêng có kẻ đi tìm cúc / Nhưng cõi đời không có Cúc Hoa / Thấy đám phù bình trên mặt nước / Biết mình đi lộn nẻo bao la.
 
Phù bình rồi phù du, bao la rồi phiêu bồng, tháng giêng rồi mùa thu, cúc hoa rồi xuân nữ, cõi đời rồi đi tìm, vô tình rồi lại yêu - những từ ngữ như muốn bắt cặp, kề đôi, rộn ràng của hiện thực mà cũng rất ảo mộng, có có không không.
 
Những khuôn mặt những người xuân nữ
Phiêu bồng vĩnh cửu lẫn phù du
Yêu rất khó vô tình cũng khó
Khách đa tình sợ nhất mùa thu
 
Những năm năm, những mười năm, khốn ách, trôi qua, trôi qua, nhoáy một cái, đã khiến người ta phải giật mình khi nhắc lại.
 
Ghé thăm ông bạn trồng cây thuốc
Mời nhau một chén rượu trường sinh
Bữa cơm tân khổ mười năm ấy
Câu chuyện năm năm khiến giật mình
 
Vậy đó, đang đi cắt tóc, thì quẹo qua đánh cờ. Đang đánh cờ thì nhắc tích xưa, luận về kim cổ. Luận xong, thì ghé thăm bạn, rồi lăn quay, ngủ trong vườn nhà bạn. Thức dậy rồi, ngỡ cơn mộng hoàng lương.
 
Nằm dưới gốc cây nghìn cánh bạc
Dường như mặt đất tiết mùi hương
Ngủ thẳng một lèo nay mới dậy
Dường như mình cũng mộng hoàng lương
 
Cơn mộng hoàng lương còn gọi là giấc mộng kê vàng. Chàng Lư đi thi không đỗ. Trên đường quay về, vào hàng cơm nghỉ chân. Được chủ quán cho mượn cái gối ngủ cho đỡ mệt, Lư nằm mơ. Thấy mình trải qua hai mươi năm, thi đậu, làm quan, danh gia vọng tộc, giàu có tột đỉnh. Thức dậy, ngỡ ngàng.
 
Nồi kê trên bếp của ông chủ quán, vẫn còn chưa chín nữa.
 
Dường như đứa trẻ nghìn năm trước
Bây giờ đây vẫn trẻ trong ta
Khi về râu tóc còn nguyên vẹn
Một ngày loáng thoáng một ngày qua.
 
Vợ cho tiền đi cắt tóc, suốt một ngày, cuối cùng, tóc còn nguyên, mà tiền thì hết.
 
Bởi mới nói, cái chi trong đời này, cho cùng, cũng chỉ loáng thoáng mà thôi!
 
**
4. Mai Sau Dù Có Bao Giờ
 
Mai Sau Dù Có Bao Giờ, chưa là một câu hoàn thiện, nó chỉ là một trạng ngữ chỉ thời gian. Thế mà Nguyễn Bắc Sơn dùng làm tựa bài thơ, đọc lên, nghe bỗng rất hay.
 
Đêm Phù Cát ngoài trời rất lạnh
Nhưng trong ngôi nhà tranh của thiếu úy Hồ Bang
Có tình bạn nồng nàn như rượu chôn ngàn năm dưới đất
Có câu chuyện tình thi vị mang mang
 
Giọng thơ của Nguyễn Bắc Sơn là giọng thơ của hào sảng pha chút nét khinh bạc, ngang tàng. Trời sinh ta là đủ rồi, cớ chi sinh thêm cái đám đông cho phiền hà lắm chuyện. Ngông nghênh thế nhưng lại rất dịu dàng và hồn nhiên. Ờ, ông trời, ổng phải sinh thêm cho nhiều để làm bạn bè của mình chớ. Không sinh thêm, lấy ai để choàng tay qua vai, cho thêm ấm áp tình mỗi khi rong chơi, chè chén.
 
Đôi lúc nghĩ trời sinh mỗi mình ta là đủ
Vì đám đông quậy bẩn nước hồ đời
Nhưng lại nghĩ trời sinh thêm bè bạn
Để choàng vai ấm áp cuộc rong chơi
 
Cũng giọng đó, bất cần, bạt mạng, vơ đàn bà vào một nắm, Nguyễn Bắc Sơn chửi toáng lên. Rồi lại ờ hen, nồng nàn ôm vào, ngác ngơ thú nhận.
 
Vì đàn bà người nào cũng như người nấy
Nên ta bảo mình thôi hãy quên em.
Nhưng đàn bà đâu phải người nào cũng như người nấy
Nên suốt đời ta nhớ nhớ quên quên
 
Bi đát đó, u uất đó, nhưng tính cách hảo hán cùng tâm hồn lãng tử thì vẫn cứ vẹn nguyên. Chán chường mấy thì thời gian cũng vẫn trôi theo chu kỳ của nó, chẳng thể nhanh hơn. Và dù cố xứ là cái nơi đen bạc, nhưng đi xa, bỏ đi xa, biền biệt cũng không đành.
 
Dù mỗi ngày ta xé đi năm mươi tấm lịch
Nhưng thời gian đâu có chịu trôi nhanh
Dù đen bạc là nơi cố xứ
Nhưng đi biền biệt cũng không đành.
 
**
5. Đều là Chuyện Nhỏ Cả
 
Trong thơ Nguyễn Bắc Sơn, ông luôn cho rằng, đời không đúng không sai.
 
Đời là một trò chơi. Nên, những điều diễn ra trong cuộc sống, nói cho cùng, vô nghĩa. Vô nghĩa nên chẳng có gì là nặng nề hay không thể. Hoặc giả, ngay cả khi nó có nghĩa đi nữa, thì cũng là chuyện chẳng đáng.
Đều là chuyện nhỏ cả!
 
**
6. Sơn Biển - Người Lính Nguyễn Bắc Sơn
 
Thái độ phản chiến trong cuộc chiến tranh hai mươi năm thuộc thế kỷ hai mươi của Nguyễn Bắc Sơn, có người cảm thông, có người không thích. Nhưng thơ Nguyễn Bắc Sơn đặc biệt, độc đáo, thì tôi tin, ai đã từng đọc ông, chắc hết thảy, sẽ tán đồng.
 
Miền Nam, trên núi có Nguyễn Đức Sơn, dưới biển thì có Nguyễn Bắc Sơn. Thơ mỗi ông, hay mỗi kiểu khác nhau, nhưng có ít nhứt, một điểm giống nhau: ngông, hào khí và tự tại, an nhiên. Tự tại của lồng lộng núi rừng. An nhiên của sóng gió biển khơi.
 
Nguyễn Bắc Sơn, giờ đây, ông không cần phải cắt cổ tay tự tử trong bãi tha ma, không cần cầm súng lên mà hai hàng nước mắt, không cần lang thang mang thơ đi đổi rượu, bởi vì;
 
ông là trích tiên bị trời đày ải
hết hạn buồn, cưỡi khói giã trần ai.
 
Sài Gòn 16. 04. 2025
Phạm Hiền Mây
 
Nguồn: Fb Phạm Hiền Mây