
hình Pixabay
“Năm Ngọ nói chuyện ngựa”, câu này tưởng cũ mà vẫn cứ mới, đấy là khi “ngựa quen đường cũ” cứ đến hẹn lại lộc cộc tìm về. “Chuyện ngựa” vì thế chẳng bao giờ cũ và chẳng bao giờ… hết chuyện. Một ông bạn cho tôi xem mấy bức tranh thủy mặc của Từ Bi Hồng (Xu Beihong), nhà danh họa Trung quốc “chuyên trị” tranh ngựa, hỏi tôi thấy thế nào.
“Đẹp thì có đẹp,” tôi nói, “trông thật dũng mãnh, nhưng vẫn thiêu thiếu cái gì đó.”
Tôi nhớ đã trả lời như thế, rồi quên đi. Cho đến một hôm tôi gặp một tranh ngựa khá nổi tiếng của họa sĩ người Anh, John Collier, vào đầu thế kỷ 11. Bức họa cho tôi biết cái “thiêu thiếu” ở trong những tranh ngựa là thiếu cái gì.
Bức tranh “Lady Godiva” này có sự tích lý thú: Theo huyền sử của nước Anh gần 1000 năm trước, bá tước Leofric, lãnh chúa xứ Mercia ban hành mức thuế cắt cổ khiến dân tình điêu đứng. Nàng Godiva, phu nhân xinh đẹp của bá tước này đã đứng về hàng ngũ nhân dân để phản kháng ông chồng mình. Vị bá tước nổi quạu, bèn đưa ra lời thách thức với vợ mình, hứa sẽ giảm thuế cho nông dân nếu nàng dám biểu diễn màn khỏa thân trên lưng ngựa đánh một vòng con phố Coventry. Ngờ đâu, bà vợ chơi luôn, cởi bỏ hoàn toàn xiêm y, leo lên lưng con ngựa bạch, lững thững dạo chơi qua những đường phố chính. Tấm thân ngà ngọc chỉ được che phủ hờ hững bằng mái tóc dài óng ả buông xõa một bên vai. Điều nghịch lý là trong lúc chủ nhân không mảnh vải che thân thì chú ngựa trắng lại được trùm lên lưng tấm áo choàng rộng màu đỏ hung in họa tiết hình sư tử, tượng trưng cho lòng dũng cảm và phẩm chất cao quý. Người họa sĩ có chủ ý tạo sự cân bằng tinh tế giữa vẻ trần trụi và nét trang trọng khiến bức họa khỏa thân không mang tính gợi dục.
Ông bạn tôi dán mắt kỹ vào bức tranh. Tôi không rõ ông chú mục vào đâu, ngựa hay người, hay cả hai.
“Người đẹp, ngựa cũng đẹp.” Ông bạn trầm trồ. “Ước gì mình được là chú ngựa ấy.”
“Đừng nhìn lâu quá, hại mắt đấy.” Tôi cảnh báo. “Câu chuyện này còn có một chi tiết. Do được thông báo trước, để tỏ lòng tôn kính và cảm kích nghĩa cử của nàng Godiva, nhà nhà bảo nhau đóng kín cửa, không ai nhìn ra ngoài đường trong lúc nàng cưỡi ngựa du hành trên đường phố. Duy chỉ có anh chàng thợ may tên Tom, không nén được sự háo hức lén lút nhìn trộm qua rèm cửa sổ, lập tức bị mù cả hai mắt trước khi kịp nhìn thấy gì.” “Chà, căng vậy sao!?”

Chú ngựa trong tranh trông hiền hòa, nhàn tản, không có khí thế, uy lực như những ngựa khác nhưng bức tranh lại rất thu hút. Nếu đặt ở một phòng tranh thì sẽ giữ chân người xem lâu hơn những tranh ngựa nào khác.
“Qua bức tranh này tôi tìm ra cái thiêu thiếu trong những tranh ngựa khác,” tôi nói. “Đấy là thiếu… người. Tranh ngựa mà chỉ có ngựa thôi thì chưa đủ, cần phải có người nữa. Những con ngựa được yêu thích nhất thường là đi với người.”
Ông bạn tôi cũng nhất trí là vậy, và sau đó chúng tôi kể ra những tên ngựa nào mình yêu thích còn nhớ được mà chúng tôi gọi đùa là “những ngựa và người đã đi qua đời mình”. Trong số này chắc chắn không có những ngựa Tàu kiểu “mã đáo thành công” hay những chiến mã như ngựa Xích Thố của Quan Công, ngựa Marengo của Napoleon Bonaparte, ngựa Nelson của George Washington…
Nếu trong huyền sử nước Anh có câu chuyện nàng Godiva cưỡi ngựa trong trang phục Eva thì trong huyền sử Việt cũng có câu chuyện Phù Đổng Thiên Vương (hay Thánh Gióng) cưỡi con ngựa sắt thật ly kỳ. Tương truyền, đời vua Hùng Vương thứ sáu, nhà Ân xua quân xâm lược nước Văn Lang. Vua lo lắng, sai người đi khắp nơi tìm nhân tài ra cứu nước. Khi đến làng Gióng, xã Phù Đổng tỉnh Bắc Ninh, gặp cậu bé lên 3 tuổi, nói với sứ giả “Ngươi về tâu với đức Vua đúc cho ta con ngựa sắt, áo giáp sắt và roi sắt để ta đi đánh giặc Ân”. Vua lấy làm lạ nhưng cũng đáp ứng mọi yêu cầu. Khi có đủ mọi thứ, cậu bé vươn vai biến thành chàng trai cao lớn, nhảy phóc lên lưng ngựa sắt. Ngựa hí vang lộng, thét ra lửa, lao vút ra trận. Bọn giặc hoảng loạn giẫm đạp lên nhau chạy trối chết. Roi sắt gãy, chàng trai nhổ từng bụi tre quất tơi bời lũ giặc. Sau khi truy đuổi giặc đến chân núi Sóc Sơn, ngựa và người bay thẳng lên trời mất dạng.
Câu chuyện Thánh Gióng cưỡi ngựa thần ấy hẳn không phải chuyện người thật, việc thật mà chỉ là truyền thuyết trong lịch sử Việt Nam nhằm hun đúc tinh thần yêu nước, chống giặc ngoại xâm.

Thánh Gióng, tranh dân gian Đông Hồ
Câu chuyện huyền hoặc như cổ tích ấy làm tôi nhớ đến chú ngựa bạch Samson với bờm và đuôi màu đen của chàng hoàng tử đẹp trai Phillip, luôn toát lên vẻ oai phong của một chiến mã hoàng gia. Chú ngựa này từng vào sinh ra tử, hợp đồng tác chiến cùng hoàng tử Phillip vượt qua khu rừng gai góc chằng chịt, chiến đấu với mụ phù thủy độc ác trong hình dạng con rồng lửa khổng lồ và sau cùng giúp hoàng tử đặt chân vào được tòa lâu đài bí mật, đặt nhẹ chiếc hôn lên môi công chúa Aurora, đánh thức người đẹp ngủ triền miên suốt trăm năm trong khu rừng cấm.
Chú ngựa Samson này có óc hài hước, đôi lúc khá bướng bỉnh nhưng dễ bị dỗ ngọt. Chú cũng rất yêu quý công chúa Aurora, lắm lúc tỏ ra ghen tuông với hoàng tử Phillip khi chàng thể hiện tình cảm say đắm với công chúa.

(Tranh hoạt họa Disney, 1959)
Qua hết thời thơ ấu, những lâu đài cổ tích và loài ngựa có cánh trong thần thoại Hy Lạp bị bỏ lại sau lưng, thay bằng những chú ngựa đáng yêu của thời niên thiếu. Trong số ấy phải kể đến chú ngựa đen tuyền Tornado của hiệp sĩ Zorro.
Chàng hiệp sĩ hay kiếm sĩ bịt mặt Zorro là nhân vật huyền thoại với hành tung bí ẩn, thoắt ẩn thoắt hiện như cơn gió lốc. Mỗi khi hành hiệp Zorro thường xuất hiện trong trang phục màu đen “toàn tập”, đội mũ rộng vành màu đen, đeo mặt nạ đen che kín nửa mặt, buộc tấm khăn choàng màu đen, mang đôi ủng da màu đen, đôi găng tay đen, cưỡi trên lưng con tuấn mã cũng màu đen. Tất cả, giúp chàng dễ hòa lẫn vào màn… đêm đen và biến mất.
Dưới lớp mặt nạ bí ẩn, Zorro là hình tượng của hiệp sĩ lãng mạn, là biểu tượng của tự do và công lý, là chàng trai tốt bụng, hào hiệp, chuyên trừng phạt những kẻ độc ác và bảo vệ người yếu thế khỏi sự áp bức trong thời kỳ California còn là thuộc địa của Tây Ban Nha vào đầu thế kỷ thứ 19.
Người hùng giấu mặt Zorro là tay kỵ sĩ điêu luyện, võ thuật tinh thông, kiếm pháp thượng thặng. Hình ảnh bắt mắt thường thấy trong phim là tấm áo choàng đen xòe rộng khi chàng phóng lên lưng ngựa hay biểu diễn những đường kiếm tuyệt luân, bay bướm. Thanh kiếm bén ngọt, mỏng như lá lúa, múa loang loáng như ánh chớp để lại dấu ấn là vết cắt hình chữ Z như “chữ ký tắt” trên ngực áo đối thủ hay bất cứ nơi nào chàng xuất hiện.
Chú ngựa Tornado, tay trợ thủ đắc lực của Zorro, cực kỳ thông minh, hiểu được tiếng người, đọc được những tín hiệu bằng mắt của chủ mình và nhiều phen cứu thoát chủ trong tình thế nguy khốn, như ngoạm xâu chìa khóa phòng giam mang đến cho Zorro để tự giải cứu mình ra khỏi nhà tù. Hoặc, chỉ cần nghe tiếng huýt sáo của Zorro là Tornado nhanh chóng từ đâu phóng đến, khom người cho chàng hiệp sĩ nhảy phóc lên lưng, không quên tiện tay cắp ngang hông người đẹp vắt lên yên ngựa vượt thoát vòng vây đối phương.

Zorro (movie posters)
Không rõ từ khi nào những phim kiếm hiệp như “The Sign of Zorro” hay “The Three Musketeers” phải nhường chỗ cho loạt phim cao-bồi cưỡi ngựa bắn súng miền viễn Tây Hoa Kỳ, do đánh gươm lằng nhằng mất thì giờ quá, chơi súng thì nhanh gọn hơn và cũng hấp dẫn hơn chăng? Những chàng kiếm sĩ được thay thế bằng những tay súng oai hùng trừ gian diệt bạo với những màn rượt đuổi, phóng ngựa như bay trên những đồng cỏ bát ngát hay sa mạc hoang vu.
Những chàng cao bồi thường có cuộc sống tự do phóng khoáng, suốt ngày rong ruổi trên lưng ngựa với quần jean áo da, mũ rộng vành, súng trễ bên hông và đôi ủng da bụi bậm gắn cựa giày để thúc ngựa.
Ngoài chuyện rút súng nhanh như chớp, một trong những kỹ năng đẹp mắt của những tay cao-bồi là màn quăng ném dây thòng lọng (cowboy’s lasso rope) thật tài tình để tóm cổ chú bò ương ngạnh, chú ngựa chưa thuần hay “bắt trói” đối thủ ngay trên mình ngựa, quăng xuống đất.
Những chuyện phim thường có mẫu số chung, kết thúc bằng màn thư hùng, đấu súng tay đôi một mất một còn. Bắn chậm thì chết, và bao giờ thì kẻ ác cũng gục ngã dưới chân người hùng.
Một trong những phim cao-bồi đầu tiên mà tôi được xem là phim “The Lone Ranger” (1956) dẫn đưa cậu bé mới lớn vào thế giới phim cao-bồi hấp dẫn với những mẫu người hùng nghĩa hiệp, khí phách ngang tàng. Trong phim, Lone Ranger đeo mặt nạ đen, cưỡi chú ngựa trắng Silver, và Tonto, người bạn đồng hành da đỏ, cưỡi chú ngựa đốm Scout hai màu nâu và trắng, đều là những chú ngựa khôn ngoan và trung thành.
Chú ngựa Silver cao lớn, khỏe mạnh, nổi tiếng với tiếng hí dài vang lộng, ngẩng cao đầu rất phấn khích khi chủ nhân thúc vào hông hô lớn “Hi-Yo, Silver! Away!”, tiếng gọi giục giã lên đường. Hoặc những lúc chồm lên, vươn cao hai vó trước xông tới khiến đối phương hoảng sợ ngã lăn ra đất. Chú ngựa Scout cũng tạo thành tích vượt thoát vòng vây chạy đi tìm Lone Ranger, vừa giậm mạnh hai chân xuống đất vừa hí liên hồi, báo tin khẩn cấp ông bạn da đỏ lâm nạn. Chàng cao-bồi lập tức thúc ngựa chạy như bay đến “cứu bồ”, từ xa bắn một phát súng đứt dây treo thòng lọng, giải cứu bạn mình.

Lone Ranger – True Grit (movie scène)
Ông bạn tôi thì nhắc đến chú ngựa Dollor của John Wayne, diễn viên điện ảnh chuyên trị dòng phim cao bồi miền Tây Hoa Kỳ. John Wayne từng cưỡi nhiều ngựa khác nhau trong nhiều cuốn phim và trong đời mình, tiết lộ rằng ông yêu nhất Dollor, chú ngựa màu nâu hạt dẻ với một vệt trắng lớn từ trán chạy dọc trên mặt. Dollor nhờ vậy được “ăn theo”, xuất hiện cùng John Wayne trong nhiều bộ phim qua lối “diễn xuất” thoải mái, tự tin, phô diễn đầy vẻ uy lực như sải rộng bốn vó, bờm tung gió, phi nước đại hay trổ tài nhảy cao, phóng xa vượt qua những hàng rào cao nhất.
Trong một scène khá “ấn tượng”, chàng cao bồi John Wayne biểu diễn màn thúc ngựa đi giật lùi trong lúc mũi súng lăm lăm chĩa vào những tay anh chị đang gườm gườm chực chờ rút súng, cho đến một quãng xa mới quay đầu ngựa phóng vụt đi.
Dollor được John Wayne yêu quý đến mức muốn giữ độc quyền chú ngựa này và đưa vào hợp đồng đóng phim điều khoản không ai ngoài ông được cưỡi chú Dollor cho đến khi ông qua đời. Chú ngựa này được kể là người bạn đồng hành thân thiết và bạn đồng diễn ăn ý nhất của John Wayne cho đến bộ phim cuối cùng, “The Shootist” (1976), kết thúc sự nghiệp điện ảnh lẫy lừng của chàng diễn viên cao bồi nổi tiếng này.
Hơn thế nữa, John Wayne và chú ngựa Dollor từng được vinh danh trong bức tượng đồng “Chàng Kỵ Sĩ” với kích cỡ người thật, ngựa thật cao 21 feet của nhà điêu khắc Harry Jackson trên hè phố lớn tại Beverly Hills, Nam California. John Wayne lừng lững ngồi trên lưng ngựa, tay nắm dây cương buông lỏng, mắt nhìn cuộc sống trôi qua mỗi ngày.
Cao-bồi thì không thể nào thiếu ngựa. Cao-bồi mà không có ngựa hoặc cưỡi con thú gì khác thì… không ra cao bồi, chẳng làm ăn gì được.
Đến đây, lại nhớ mẩu chuyện vui. Một tay cao bồi mặt mũi bậm trợn bước vào quán rượu chơi hết mấy ly whisky đến sật sừ. Lúc trở ra, tìm quanh quất không thấy con ngựa của mình đâu cả, anh chàng giận quá, trở vào quán trợn mắt gằn giọng, “Tên nào chôm mất con ngựa của tao, lập tức mang trả ngay. Nếu không, sau 5 phút, tao sẽ làm đúng y chang những gì bố tao đã làm cách đây 10 năm.”
Năm phút sau, chàng cao bồi bước ra cửa trông thấy lại chú ngựa của mình, được cột dây cẩn thận.
“Có thế chứ,” anh chàng gật gù, leo lên mình ngựa.
“Thế 10 năm trước bố anh làm gì vậy?” chủ quán rượu đứng bên, rụt rè hỏi.
“Thì ổng đi bộ về nhà chứ còn làm gì nữa,” chàng cao-bồi trả lời, “thế mà cũng hỏi.”

Lucky Luke, tranh Morris
Cao-bồi mà không có ngựa thì chán ngắt, cả trong phim ảnh lẫn tranh hoạt họa. Điều này càng đúng với loạt truyện tranh nhiều tập của họa sĩ người Bỉ Morris (1946). Nếu chỉ có nhân vật Lucky Luke thôi mà thiếu đi chú ngựa Jolly Jumper thì chắc đấy không phải là bộ truyện tranh nổi tiếng, được dịch ra hơn 30 thứ tiếng và bán chạy nhất Âu châu.
Loạt truyện này lấy bối cảnh miền viễn Tây Hoa Kỳ vào cuối thế kỷ 19. Lucky Luke, nhân vật chính trong truyện là anh chàng cao bồi độc thân vui tính và là tay súng thần sầu, nổi tiếng với tước hiệu giang hồ “Kẻ bắn nhanh hơn cái bóng của mình”. Anh chàng từng thử đi thử lại, mười lần như một đều rút súng nhanh hơn và để một phát trúng ngay tim chiếc bóng lung linh ấy.
Hình ảnh quen thuộc của Lucky Luke là chàng lãng tử ốm nhom, cao nhòng, tóc tém, mặt dài ngoằng, mũ cao bồi trắng, áo ghi-lê đen, sơ-mi vàng, khăn quàng cổ nâu đỏ và điếu thuốc luôn vắt vẻo trên môi (về sau được thay bằng cọng cỏ, do phong trào… phòng chống ung thư). Về tài bắn súng thì khỏi chê, chàng cao bồi rút súng nhanh như chớp bằng cả hai tay, trăm phát trăm trúng. Lại còn màn quay súng như chong chóng rất điệu nghệ trong lúc nòng súng còn đang bốc khói.
Jolly Jumper là chú ngựa trắng, bờm vàng, đuôi vàng, cổ cao chân dài, là chú ngựa độc đáo có một không hai. Nói “độc đáo” vì ngoài chuyện nghe và hiểu được tiếng người chú còn có nhiều tài vặt, như thổi khẩu cầm, chơi cờ vua, biểu diễn môn đi dây thăng bằng hay đấu vật tay với Lucky Luke xem ai khỏe hơn ai.
Chàng Lucky Luke một mình một ngựa lang thang khắp miền viễn Tây hoang dã để thực thi công lý, đối đầu với nhiều kẻ cướp, băng đảng dữ dằn sống ngoài vòng pháp luật vào thời khai hoang của nước Mỹ. Có thể nói Lucky Luke là truyện cao-bồi lành mạnh nhất, có đấm đá, có súng nổ nhưng tuyệt nhiên không hề có xác người hay cảnh giết chóc tàn bạo nào.
Đôi bạn Lucky Luke và Jolly Jumper từng có những phút thư giãn sau mỗi chiến tích như dạo chơi trên những cánh đồng cỏ mênh mông hay những sa mạc luôn có những cây xương rồng xù xì gai nhọn trong những đêm có ánh trăng thơ mộng. Anh chàng Lucky Luke thường nằm ngửa vắt vẻo trên lưng chú Jolly Jumper, miệng huýt sáo điệu nhạc… cao-bồi hay dừng chân trên sườn đồi, nhóm củi đốt lửa pha chế và nhấm nháp chút cà-phê không đường như hai người bạn đường tri kỷ.
Phần kết mỗi tập truyện đều có cùng mẫu số chung, tranh cuối cùng bao giờ cũng là hình ảnh chàng Lucky Luke một mình một ngựa, cưỡi trên lưng chú Jolly Jumper vừa lững thững đi về phía chân trời hoàng hôn vừa hát nghêu ngao, “Tôi là gã cao bồi nghèo đơn độc, mà quê nhà thì xa quá xa…” (I’m a poor lonesome cowboy / and a long way from home…)

Lucky Luke, tranh Morris
Những ngựa và người nào đã đi qua đời mình, khó mà nhớ hết được. Nếu phải kể thêm, lại còn nàng ngựa Giáp Ngọ nữa chứ. Một lần đi là đi biệt, đi không ngoảnh lại, đi “không nhớ gì sao người?” như câu hát quen thuộc nào. Ông bạn tôi cũng hứng chí kể ra đến mấy nàng ngựa đi qua đời mình, nàng nào tên cũng đẹp cả, nào là Trúc Mai, Thu Yến, Mỹ Phương, Hoàng Dung… Tưởng anh chàng có số đào hoa, hóa ra chàng thú nhận đấy là những tên ngựa ở trường đua Phú Thọ mà chàng từng có thời kỳ chết mê chết mệt môn cá cược đến mất ăn mất ngủ.
“Cũng còn là may đấy,” tôi nói. “Có lắm người không chỉ mất ăn mất ngủ mà còn tán gia bại sản cũng vì máu đỏ đen ấy, gọi là ‘chết vì ngựa’.”
“Ông yêu con ngựa nào nhất trong số những ngựa ấy”, ông bạn hỏi.
Thật khó mà trả lời, mỗi thời kỳ mỗi khác. Bỗng dưng, tôi nhớ đến bức vẽ cuối cùng trong loạt truyện tranh Lucky Luke ấy. Chàng cao-bồi lãng tử một mình một ngựa lững thững đi về phía hoàng hôn cuối chân trời. Bây giờ tôi mới hiểu ra ý nghĩa của tranh cuối ấy. Bao giờ cũng là tranh ấy. Có chọc trời khuấy nước, có bôn ba xuôi ngược đến đâu thì rồi con đường nào cũng dẫn về phía ấy, phía chân trời hoàng hôn.
“Chú ngựa Jolly Jumper,” tôi trả lời.
Chàng Lucky Luke không đến nỗi cô đơn vì còn có chú Jolly Jumper bầu bạn; hơn thế nữa, còn là bạn đồng hành bên nhau mãi cho đến cuối đường. Một tình bạn ấm áp và cảm động.
Bao nhiêu mùa xuân đã đi qua, khi tuổi đã về chiều, ngoảnh lại mới thấy cuộc sống ngắn ngủi hơn bao giờ. Thời gian vun vút như “bóng câu qua thềm”. Hơn một nửa bạn bè, anh em và những người thân tôi đã như những chiến binh ngã ngựa, nếu không rời bỏ thế gian thì cũng chẳng còn sức nào để leo lên lưng ngựa.
Đầu năm Ngựa, ngồi ôn chuyện cũ, hát nhại câu hát của chàng lãng tử cao-bồi ấy mà lòng gợn lên một mối cảm hoài.
Tôi là tay cao bồi già đơn độc / rong ruổi trên những dặm đường hun hút / mà quê nhà vẫn xa biền biệt…
Lê Hữu
