User Rating: 5 / 5

Star ActiveStar ActiveStar ActiveStar ActiveStar Active
 

nhoque1

Có ai trong đời ra đi mà không nhớ quê. Nếu đặt câu hỏi giữa lúc này tức-thị-không: không sắc, không màu giữa cõi đời vốn đã mang nặng tâm tư, bởi; ít nhiều trong chúng ta như đã có lần về hoài niệm đó. Đừng cho xa quê mới có nỗi nhớ. Lên xe hoa về nhà chồng là chấp nhận biệt ly để ‘ngó về quê mẹ ruột đau chín chiều’ đó là tình hoài hương, là mộng ủ trong lòng người ra đi. Tiễn chân con lên đường ra tiền tuyến là mặc niệm cho một ngày về nhưng có biết trở về như hứa hẹn hay để rồi mong nhớ, đợi chờ; chính sự lý đó là nỗi niềm ray rứt vô tận giữa kẻ ở người đi. Hình ảnh trong ngôn từ tiễn đưa là nói đến thời gian, vì nó đánh dấu những bước thăng trầm, những bi lụy vào đời mà sinh ra cách ly; cho nên biệt ly là nước mắt mà trong nước mắt chứa một sự đau khổ, nhưng; nhờ ý thức chuyển vị đẹp đẽ đó mà làm cho cuộc đời có một hy vọng hơn.

Vì vậy; giữa thời gian giao mùa năm cùng tháng tận, kẻ ly hương coi tình hoài hương là một cái gì đáng quý, đáng mến. Một thứ tình tuyệt đối hơn mọi thứ tình yêu khác. Sao thế? Nếu đặt câu hỏi này thì hoàn toàn vô thức trước một hiện tượng biểu trưng: hoài hương là tình yêu nước; dẫu có nghìn trùng xa cách lúc nào cũng đoái hoài cho một thứ ‘tình si’, nó vương vấn, nó ấp ủ, nó thiết tha cái mặn nồng bên chén ngô khoai, rau cà, mè muối, cái thứ đơn sơ, mộc mạc đó thử kiếm đâu ra cái hương chất ‘quê mẹ’ muôn đời là tồn lưu nhân thế, chan vào đó những thăng trầm vận nước những thứ đó đem lại hoài niệm của đau thương cho tình quê, là cái nhìn sự thật của tâm hồn, là tất cả sức mạnh của đời sống bình dân, là niềm tin của người dân Việt, cái xót xa đó thể hiện qua mọi tầng lớp trong xã hội, lịch sử đã đánh dấu một Huyền Trân mơ về quê hương cho Châu Ô, Châu Rí; đó là cảm tính của con người xa quê. Bên cạnh đó đã để lại bao thăng trầm, chính cảm xúc là một thức tỉnh, là khám phá của con người đã ‘đánh mất’ cái tình quê chan chứa; nó bao hàm một sắc thái riêng biệt trong đời của những kẻ xa quê.

Chính trong hoài niệm cho chúng ta một sự ‘nhớ về/rever’ đó là giấc mơ hiện thực giữa đời đối với kẻ tha hương, một thứ chìm đắm nằm trong một tâm thức hướng về, chi phối thực tại đang sống giữa những phồn vinh, giữa những xa hoa; khung cảnh đó chính là thảm trạng biệt ly của kẻ xa xứ, từ ngoại giới nó tạo cho người ‘yêu nước’ một sự sống dậy như ‘đói lòng’ cho một thèm khát hiếm có giữa đời đang sống: ‘Anh đi, anh nhớ quê nhà / Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương / Nhớ ai dãi nắng dầm sương / Nhớ ai tát nước bên đàng hôm nao’ (Ca dao VN). Đó là cảnh giới đã chiếm cứ thảm trạng biệt ly và chính thực hữu ở ngoài đời đã đem lại cho người xa xứ cảnh mơ về. Một tâm lý khác đựng trong nỗi niềm là thứ tâm lý thuộc hình ảnh cuộc đời, nó đi vào vũ trụ tâm hồn của kẻ sống xa quê, tiếng lòng là tiếng ‘nhớ nước đau lòng con quốc quốc’ (Bà Huyện Thanh Quan). Đấy là nỗi nhớ ‘trong cùng mỗi con chữ /Au fond de chaque mot’; tức là tôi hiện hữu trước cuộc đời / je pense, donc je suis. Sự cố đó là ‘Cogito’ là Nghĩ Về (R. Descartes) Thành ra giữa vũ trụ ngoại giới là vũ trụ nội giới của con người xa quê; chủ thể và đối tượng tương thức vào nhau để có một dung thông cho tâm hồn hướng về là hòa mình với sự thật không gian giữa quá khứ và hiện tại là qui nạp để được sống thực.

Trầm ngâm trong ngày đầu năm là hoài niệm để cùng hòa vào đó trong ngôn từ thi tứ một chất liệu dành cho quê hương, một quê hương muôn đời là nỗi nhớ của kẻ vong thân: ‘Mai chẳng bẻ, thương cành ngọc / Trúc nhặt vun, tiếc chiếu rồng’ (Nguyễn Trãi) hay đậm đà hơn: ‘Trăng thanh gió mát là tương thức / Nước biếc non xanh ấy cố tri’. (Nguyễn Bỉnh Khiêm) Sự cớ đó là mầm gieo vào hồn của những kẻ xa xứ chỉ còn hoài niệm của mỗi khi xuân về trên đất nước tạm dung qua cây kiểng hay chén trà đậm, nhạt hương xưa bên nhánh hoa cúc đào mận hay ‘mai chẳng bẻ thương cành ngọc’ có thể thứ hoa không thực để dưỡng mục chớ chưa nói để thương cành ngọc (?). Sự vật biến mình dù là tĩnh vật / still life là một sự cô đọng tâm hồn, một khát vọng thuộc bản thể nội tại mà đành lòng ôm ấp mộng cũ để được sống lại; trong những dạng thức đó đều là lối ‘mơ về / reveries’ trong cái thế giới là bản thể con người / le mond est corps humain, nhìn tới nhân gian /regard humain, hơi thở và tiếng nói thế nhân / soufflé et voix humaine. Tất cả chỉ là khát vọng nhớ thương, khát vọng được sống những gì mình đã sống. Đó là hồn thiêng đất nước!

Dự tính tương lai thì ai cũng có từ xưa nay. Con vật và con người đều có cái nhìn triển vọng vào tương lai. Con heo mẹ nhìn bầy heo con quanh bụng vú là nhìn tới tương lai cho bánh chưng bánh dầy ‘thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ’ là niềm tin. Con chó mực thấy mình là mực là nhất thể không vện, không vàng, không lốm đốm đó là cái nhìn vào bản thể chính mình, nếu một mai là ngọn-cờ-tây trong chén quốc lũ chén nồng, chén cay. Là mực đã nhìn thấy tương lai. Chính nhìn tới là hoài vọng của mất mát phân ly, những thứ đó là hiện tượng dung thông giao hòa trong cái thế bị động của ước mơ hay dự tính. Nói theo chữ nghĩa triết học của A. Camus là ‘Lưu đày và Quê nhà / L’Exil et le Royaume’ là hai tác động mãnh liệt nhất cho những con người vong thân, họ chấp nhận để được trở về, không phải về như ước mơ mà về trong dạng nhận biết. Trở về tợ như của Camus: là sẽ không bao giờ trở về trên đất mình. Cái lý đó nói trong văn chương, trên thực tế Camus đã trở về với đất nước sinh ra mình, dẫu là cố quốc. Trạng huống đó nó nằm trong cõi mơ ‘Ôi quê hương ngàn thu xa vời vợi’ (Hoàng Lan).

Thành ra người vong thân là biết mình biệt xứ chỉ lấy mơ làm thực. Đôi khi đời gọi là ‘mơ trở thành thực / dream come true’ có người lại cho ‘ngày mai không bao giờ đến / tomorrow never come’. Cả hai sự lý này nó nằm trong một tàng thức dung thông, nghĩa là đến và đi đều quay trong một tư duy hoài niệm. Có chi đi nữa rồi cũng mơ-về để thấy quê hương cho một lần chết, dẫu là được chôn cái tấm thân tàn trên đất mẹ là hoài vọng của kẻ biệt xứ… Những người ra đi hơn bốn mươi năm luôn luôn sống trong hoài niệm của một tâm lý nội tại ‘chiều chiều ra đứng ngõ sau’ là thừa nhận ở chính bản thể mình một nghìn trùng xa cách. Bởi; trong gợi nhớ nào đi chăng đều là hoài niệm của kẻ khốn cùng. Nói tới đây lại nhớ Dostoevsky!

Tinh anh thuần nhất cho một quê hương ‘ngàn thu xa vời vợi’ là tinh anh trong hiện tượng ‘đói lòng’ của năm này qua tháng nọ. Kẻ đi săn tâm hồn, săn cái chưa được, chưa có; nó mãi mãi là hoài vọng u hoài cho một quê cũ là thiên đường bị đánh mất. Tiếng gọi quê hương là tiếng kêu liên kết ước thệ nguyện cho nhau. Giấc mơ hồi hương là tiếng lòng của người biệt xứ; nó cô đơn, bởi; biên giới không gian là ‘đoạn trường tân thanh’ của kẻ ở người đi là ngàn dặm sơn khê để rồi thốt lên tiếng nói: ‘Hỡi ơi! Dâu biển mòn thương nhớ’. Đấy là sự thật cuộc đời không ai chối cãi được. Dự tính cho năm mới là thoát ra khỏi cái bi thảm của cuộc đời để có tia sáng soi rọi vào lòng nhau.

Chúng ta không còn nhìn thấy biên giới của tâm hồn tất chúng ta nhìn về cố hương như nỗi mong chờ cho hôm nay và ngày mai; biên giới không gian chỉ là hình tượng của phân ly mà thôi, bởi; trong chúng ta là một nhất thể cho đoái hoài quê hương. Muốn có thương nhớ thì phải có hồn thiêng sông núi đó là trọng tâm; đừng vì cớ sự để phải ‘mòn’ thương nhớ mà phải ngất dậy như thấy quê hương đang sống. Đổi thay đời là đổi thay luôn ý nghĩa hiện hữu để thấy quê nhà hơn thấy mình là lưu đày ./. 

Võ Công Liêm (ca.ab.yyc January 2018)

Add comment


Security code
Refresh

Tìm các bài LỜI HAY Ý ĐẸP khác theo vần ABC . . .

Tống Phước Hiệp

Địa chỉ E-Mail để liên lạc với chúng tôi: trangnhatongphuochiep.com@gmail.com